ZenTam
Kiến thứcTin tứcKinhVề chúng tôiLiên hệ
Tải app
ZenTam

Nơi nuôi dưỡng tâm hồn và tìm lại sự bình an giữa cuộc sống hiện đại.

Khám Phá
  • Kiến thức
  • Tin tức
  • Kinh điển
  • Chùa
Zentam
  • Về chúng tôi
  • Tác giả
  • Báo chí
  • Liên hệ
Tải App
  • Tải app miễn phí
  • App Store
  • Google Play
Hỗ Trợ
  • Điều khoản sử dụng
  • Chính sách bảo mật
  • Chính sách cookie
  • Xoá tài khoản
  • RSS Feed

© 2026 ZenTam — The Digital Sanctuary.

DMCA.com Protection Status
  1. Trang chủ/
  2. Kinh điển/
  3. Kinh Báo Ân Cha Mẹ
← Kinh điểnBắc tông

Kinh Báo Ân Cha Mẹ

5 phút đọc

Tôi nghe thế này: Một khi Phật ở trong ngôi Tinh Xá, vườn ông Cấp Cô Độc, cây của Thái tử Kỳ Đà, cùng các Tăng già, có t

── Kinh Báo Ân Cha Mẹ ── Tôi nghe thế này: Một khi Phật ở trong ngôi Tinh Xá, vườn ông Cấp Cô Độc, cây của Thái tử Kỳ Đà, cùng các Tăng già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người, cùng chư Bồ Tát. Bấy giờ Thế Tôn, cùng với đại chúng, nhân buổi nhàn du, đi về phía Nam, thấy đống xương khô, chất cao như núi, Đức Phật Thế Tôn, liền sụp lạy ngay, đống xương khô ấy. Tôi bạch Phật rằng: Lạy Đức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi, chí tôn, chí quý, Thầy cả ba cõi, cha lành bốn loài, thiên thượng nhân gian, thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ, đống xương khô kia. Đức Phật dạy rằng: Này A Nan con! Đống xương khô ấy, hoặc là ông bà hay là mẹ cha, của Ta thân trước, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay Ta chí thành kính lễ. Con đem xương này, chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho Ta. Bạch Đức Thế Tôn! Con xem ở đời, phàm là con trai, ai cũng nhận ra đấy là nam giới; những người con gái, ai cũng nhận ra đó là giới nữ; người chết quá khứ, xương lẫn lộn nhau, chúng con biết đâu mà phân biệt được. Đức Phật lại dạy: Này A Nan con! Về bên nam giới, thì xương sắc trắng, nhấc thấy nặng hơn. Còn như nữ giới, trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú tám thùng bốn đấu, sữa ở trong thân, giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói, thương xót vô cùng, mẹ tôi đã từng, hao mòn như thế, nghĩ mà rơi lệ, liền bạch Phật rằng: Lạy Đức Thế Tôn! Công ơn cha mẹ, như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Đức Phật, rủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con. Đức Phật liền dạy: Này A Nan con! Về ơn đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không kể xiết: 1. Khi vừa một tháng ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng; trưa đã tiêu tan, khó lòng giữ được. 2. Khi được hai tháng ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu. 3. Khi được ba tháng ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác. 4. Khi được bốn tháng ở trong thai mẹ, mới dạng hình người. 5. Khi được năm tháng ở trong thai mẹ, mới đủ năm hình chân, tay, đầu, óc. 6. Khi được sáu tháng ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hình và ý. 7. Khi được bảy tháng ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi, những cái đốt xương; cùng là tám vạn bốn nghìn chân lông. 8. Khi được tám tháng ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý trí mới đủ, chín khiếu mới thông. 9. Khi được chín tháng ở trong thai mẹ, mới đủ hình người, ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống; thực tạng hướng lên, có một dãy núi, gồm có ba quả: Một là Tu Di, hai là núi Nghiệp, ba là núi Máu, núi này đồng thời hóa ra dòng máu, rót vào trong miệng. 10. Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần vẹn toàn mới đến ngày sinh. Nếu con có hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ, nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi, buốt chói từng hồi, khiến đau lòng mẹ, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao đâm vào gan ruột, mẹ khổ vô cùng nói sao cho xiết, sinh được thân này, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay! Phật bảo A Nan: Công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con phải lo báo hiếu. Thứ nhất ơn: chín tháng mười ngày cưu mang nặng nhọc Bao kiếp duyên cùng nợ Ngày nay mới vào thai Đầy tháng sinh phủ tạng Bảy bảy sáu tinh khai Thân trọng như non Thái Động tĩnh sợ phong thai Áo the đành xốc xếch Gương lược biếng trang đài. Thứ hai ơn: khi gần sinh nở Khi gần ngày sinh nở Nặng nhọc khổ sở thay Cưu mang trong mười tháng Vất vả biết bao ngày Đứng ngồi và đi lại Dáng vẻ tựa ngô ngây Sợ hãi, lo cùng lắng Tử sinh, giờ phút này! Thứ ba ơn: lúc sinh nở Mẹ ta khi sinh nở Thân thể đều mở toang! Tâm hồn như mê mẩn Máu me chan hòa đầy Chờ nghe thấy con khóc Lòng mẹ mừng rỡ thay! Đương mừng lo lại đến Rầu rĩ ruột gan này. Thứ bốn ơn: ăn đắng nhả ngọt Mẹ ta lòng thành thực Thương con chẳng chút ngơi Nhả ngọt nào có tiếc! Ăn đắng nói cùng ai? Yêu dấu như vàng ngọc Nâng niu tay chẳng rời Những mong con no ấm Mẹ đói rét cũng vui. Thứ năm ơn: xê con tự thấp Tự mình nằm chỗ ướt Chỗ ráo để xê con Hai vú phòng đói khát Hai tay ủ gió sương Thâu đêm nằm chẳng ngủ Nâng niu tựa ngọc vàng Những mong con vui vẻ Lòng mẹ mới được yên. Thứ sáu ơn: bú mớm nuôi nấng Đức mẹ dày như đất Công cha thẳm tựa trời Chở che coi bình đẳng Cha mẹ cũng thế thôi! Chẳng quản câm, mù, điếc Chẳng hiềm quắp chân tay! Bởi vì con ruột thịt Trọn đời dạ chẳng khuây. Thứ bảy ơn: tắm gội giặt giũ Vốn người có nhan sắc Lại thêm phấn sáp xông Mày xanh như liễu lục Má đỏ tựa sen hồng Giặt giũ khăn cùng tã Dáy dơ chẳng quản công Cốt sao quần áo sạch Búi tóc gọn là xong. Thứ tám ơn: đi xa lòng mẹ nhớ thương Từ biệt lòng khôn nhẫn Sinh ly dạ đáng thương Con đi đường xa cách Mẹ ở chốn quê hương Ngày đêm thường tưởng nhớ Sớm tối vẫn vấn vương Như vượn thương con đỏ Khúc khúc đoạn can trường? Thứ chín ơn: vì sinh con mà cam lòng tạo bao ác nghiệp Mẹ trải bao gian khổ Công lao tựa vực trời Bồng bế cùng nuôi nấng Mong sao con ăn chơi Nhường cơm cùng xẻ áo Mẹ đói rách cũng vui Khôn lớn tìm đôi lứa Gây dựng cho nên người. Thứ mười ơn: mẹ trọn đời thương yêu con Công cha cùng đức mẹ Cao sâu tựa biển trời Vắt cạn kiệt dòng sữa Để cho con tươi cười Mẹ già hơn trăm tuổi Vẫn thương con tám mươi Bao giờ ân oán hết Tắt nghỉ cũng chẳng thôi! Công mẹ như trời biển, nhưng ở tại thế gian, nhiều những người con, mang tâm bất hiếu, chẳng nghĩ công ơn cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa thu mùa đông, rét run bức bối, chẳng lo sớm tối, ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt mười non, dày vò chửi giả, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, con nào hỏi han, gái trai tránh né, mặc thây cha mẹ, đêm ngày thở than! Nếu là con trai, mang tâm bất hiếu khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng rằng e, sợ kẻ cười chê, nhưng đem quà bánh, cùng vô số thứ, cho vợ cho con, vợ con dặn bảo, vâng đúng như lời, cha mẹ hết hơi, không hề hối cải, coi tình vợ con trọng hơn công mẹ. Nếu là con gái, mang tâm bất hiếu, khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo, khi đã gả bán, về ở nhà người, một ngày một lười, nhà ngoại không thiết, những ngày giỗ Tết, có đảo về qua, ví dụ mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận giữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, bạn bè thất thểu, tình nghĩa keo sơn, tỏ ra chăm chú, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lìa, làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín càng không, tuyệt vô tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi, công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm. Khi ấy đại chúng, nghe Phật nói ra! Công đức cha mẹ, cao tầy non Thái, nghe rồi sợ hãi, hối hận vô cùng, cảm động rưng rưng, khôn cầm nước mắt, lòng đau như cắt, tâm trí rối bời, đang từ chỗ ngồi, cùng nhau đứng dậy, hướng Phật mà lạy rồi nói lời này: Khổ thay! Khổ thay! Đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối, ngày nay biết hối thì sự đã rồi, đau đớn lòng tôi, trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ơn đức mẹ cha. Đức Phật liền bảo, cặn kẽ mọi lời, này chúng sinh ơi! Muốn đền ơn nghĩa: 1. Một vì mẹ cha, nên chép kinh này, kính biếu đó đây, cho nhiều người tụng. 2. Hai vì mẹ cha, đọc tụng kinh này, hàng ngày chớ bỏ. 3. Ba vì mẹ cha, làm chay sám hối, sớm tối ăn năn. 4. Bốn vì mẹ cha, cúng dàng Tam Bảo, tùy ý sở dùng. 5. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày trai, phải nên nhớ giữ. 6. Sáu vì mẹ cha, thường hay bố thí, làm mọi việc lành. Làm được như thế thực là con hiếu, cứu được mẹ cha. Khi ấy A Nan, liền bạch Thế Tôn: Con lạy Đức Phật! Đây là Kinh gì? Chúng con muốn trì, tụng được hay chăng. Đức Phật dạy rằng: Chúng con nên biết, kinh này là Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân Chi Kinh. Tất cả chúng sinh, thảy đều nên tụng, khi ấy đại chúng, nghe Phật nói rồi, tin, kính, phụng hành, lễ tạ mà lui. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Kinh tiếp theo

📿

KINH SÁM HỐI SÁU CĂN

Tịnh độ8 phút đọc
→
📿

Kinh A Di Đà

Tịnh độ21 phút đọc
→
📿

KINH DƯỢC SƯ

Bắc tông42 phút đọc
→
📿

Bài sám Phật đản sinh dành cho Phật tử

Bắc tông1 phút đọc
→
📿

KINH TỪ TÂM

Nguyên thủy5 phút đọc
→