KINH TU TẬP SÁM HỐI
17 phẩm22 phút đọc
KINH TU TẬP SÁM HỐI — 17 phẩm/chương
── Kinh Nhân Quả ──
Một hôm, Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội.
Khi ấy A Nan Đà Tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng:
- Bạch Thế Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng cha mẹ, không có tam cương. Năm giới rối loạn, nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh hại mạng cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau. Do nhân duyên quả báo gì khiến nên như thế? Cúi xin Đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc.
Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử:
- Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ.
Tất cả nam nữ ở thế gian, giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ trước mà cảm quả báo. Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ việc sát hại mà phóng sinh và thứ tư cần trì trai và bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau.
Phật liền nói bài kệ nhân quả rằng:
1. Xưa tin nhân quả đạo lành
Đúc chuông tô tượng lòng thành chứa chan
Nay sinh hưởng phúc làm quan
Vinh hoa phú quý giàu sang ai bì.
2. Đời xưa xây cống sửa cầu
Quét đường dọn ngõ chẳng dầu chẳng e
Nay thì lên ngựa xuống xe
Đường mây thanh thản mái che mát đầu.
3. Kiếp nay ăn mặc sang giàu
Nhiễu, lon, gấm vóc đủ màu thỏa thê
Là vì kiếp trước lo bề
Cúng dường Tam Bảo áo y đủ đầy.
4. Kiếp nay tiền của đề huề,
Dung nhan đoan chính nhiều bề tốt tươi,
Vì xưa tâm đức thương người,
Đỡ nghèo giúp khó vẹn mười thiện căn.
5. Kiếp nay gác tía lầu son,
Nhà cao cửa rộng vuông tròn trước sau,
Vì xưa tiến gạo, cúng dầu,
Đưa vào Tam Bảo đề cầu phúc lai.
6. Kiếp xưa xây quán dựng trường,
Trồng cây, đào giếng, sửa đường, dọn ao,
Đời nay khỏe mạnh thọ cao,
Hồng da trắng tóc hạc nào dám đương.
7. Đời nay diện mạo đoan trang,
Hình dung hòa dịu thế gian mấy người,
Bởi xưa mua hái hoa tươi,
Cúng dường Tam Bảo vẹn mười thanh cao.
8. Kiếp nay linh lợi sáng tinh,
Làm hay học giỏi thông minh khác thường,
Vì xưa dọn dẹp đèn hương,
Tụng kinh niệm Phật là đường quả lai.
9. Kiếp xưa Tam Bảo cúng dường,
Hoành phi, câu đối cùng hàng phướn phan,
Kiếp nay hạnh phúc chan chan,
Vợ chồng sung túc hòa an trọn đời.
10. Kiếp nay cha mẹ song toàn,
Anh em hòa hợp chứa chan sum vầy,
Bởi xưa yêu mẹ quý Thầy,
Giúp người cô độc thương bầy trẻ côi.
11. Đời xưa thương xót chúng sinh,
Phóng sinh thả cá cứu tình si mê,
Kiếp nay con cháu đề huề,
Hưởng thường ngũ phúc thọ bề như non.
12. Đời xưa cậy sức tú bà,
Coi thường khinh miệt chồng là rác rơm,
Kiếp nay quả phụ cô đơn,
Ruột rầu đứt đoạn nguồn cơn não lòng.
13. Kiếp nay chịu cảnh nô tỳ,
Hầu trên hạ dưới bù trì chủ nhân,
Bởi xưa bội nghĩa vong ân,
Qua sông phụ sóng quả thân tôi đòi.
14. Kiếp nay mắt sáng uy nghi,
Dung nhan thông tuệ là vì làm sao,
Do xưa chẳng quản tiền hao,
Dầu đèn, nến sáp cúng vào Thế Tôn.
15. Đời xưa chửi mẹ mắng cha,
Rủa lời tục tĩu cùng là ác tâm,
Nay thì mồm méo miệng câm,
Rụng răng thụt lưỡi tính hâm tỷ ngàn.
16. Kiếp xưa bài lễ bác kinh,
Cười người tin Phật chê tình đạo chung,
Đời nay nghẹo cổ gù lưng,
Gối chùn mắt lác trông chừng lừa con.
17. Kiếp nay làm giống ngựa trâu,
Đem thân cày kéo vọt đâu đã chừa,
Bởi xưa không trả nợ xưa,
Vay mà ăn quỵt làm bừa bỏ không?
18. Kiếp nay khỏe mạnh hào hùng,
Thân hình tráng kiện nhan dung phi thường,
Bởi xưa tâm đức nhiều phương,
Giúp người tật bệnh tìm đường thuốc thang.
19. Đời nay khổ cực lang thang,
Chết không đất táng sống không cửa nhà,
Bởi xưa bắt nạt người ta,
Lấn già, hiếp trẻ, nộ bà, rẻ ông.
20. Kiếp xưa giảng pháp in kinh,
Vô lượng công đức vào mình ấy vay,
Cúng dường Tam Bảo vật tài,
Nay phần phúc lộc hưởng hoài cao sang.
21. Đời nay Phúc Lộc Thọ toàn,
Gia đình êm ấm thần quan nể vì,
Bởi xưa kính lão mến nhi,
Trọng hiền, yêu thiện vậy thì mới nên.
22. Kiếp xưa kính trọng Tăng Ni,
Giúp người đơn chiếc đỡ thì gian nan,
Nay thì vợ thảo dâu ngoan,
Cháu con tôn kính mọi đàng hiển vinh.
23. Đời nay con cháu khó nuôi,
Chết non quặt quẹo chẳng xuôi bề nào,
Vì xưa thù hận dâng cao,
Mắt giương tóc dựng chân cào tay giơ.
24. Kiếp nay cô độc suốt đời,
Năm canh vò võ ai thời nhìn trông,
Bởi xưa phạm lỗi tà dâm,
Ngó trông, lén lút mà xâm nhà người.
25. Đời xưa xem sách dâm thư,
Bói nhằng phán cuội tính hư mọi đường,
Kiếp này mù mắt lang thang,
Mó sờ, rờ rẫm biết đường nào đi.
26. Kiếp xưa đâm thọc chuyện người,
Khua môi múa lưỡi làm người nát tan,
Đời nay sù sụ ho khan,
Dãi đờm hôi hám máu chan dầm dề.
27. Kiếp xưa Phật Pháp không tin,
Báng đường Nhân quả, phỉ kinh Luân hồi,
Kiếp nay điếc đặc than ôi,
Mũi mồm ngơ ngáo ai dôi chuyện mình.
28. Đời xưa ngược đãi súc sinh,
Đánh, lôi, giết, chẳng nể tình si mê,
Kiếp này chốc ghẻ nan y,
Hắc lào, phong hủi ê chề hám hôi.
29. Kiếp xưa ganh ghét người tài,
Ác tâm hãm hại úm chài kẻ hay,
Nay bệnh bướu cổ mề đay,
Thân hình hôi hám ruồi bay hàng đàn.
30. Đời xưa lắm sự dèm pha,
Gươm đưa hai lưỡi giáo khoa hai đầu,
Kiếp này sứt miệng răng vâu,
Nói lời quang quác ai hầu muốn nghe.
31. Kiếp xưa đánh đập Mẹ Cha,
Hung hăng bất hiếu như là sài lang,
Đời nay dị tật phải mang,
Tay chân teo quắp rõ ràng thảm thương.
32. Ngày xưa đập quán phá đường,
Hủy cầu lấp cống xem thường thiện tâm,
Đời nay què cụt hai chân,
Đi bằng đôi nạng muôn phần xót xa.
33. Ngày xưa thấy kẻ cháy nhà,
Thấy người vấp ngã cười mà đứng xem,
Ngày nay tật ách kiêng khem,
Ốm o yếu đuối lại kèm cô đơn.
34. Kiếp xưa gạt kẻ mù lòa,
Lừa người điếc lác để mà lợi thân,
Nay làm chó ngựa khổ tâm,
Làm loài thú vật trả dần tội xưa.
35. Thấy người nguy hiểm làm ngơ,
Tai ương, cơ nhỡ lại chờ xem chơi,
Nay thì tật bệnh suốt đời,
Một mình thui thủi kêu trời ích chi.
36. Kiếp xưa nói xấu người ta,
Tự dưng gắp lửa bỏ qua tay người,
Nay nhầm thuốc độc chết tươi,
Dãi đờm máu mủ eo ơi thảm buồn.
37. Kiếp nay xương vẹo lưng gù,
Thân hình xấu xí hôi mù than ôi,
Xưa khinh đầy tớ mất rồi,
Đọa hành con ở xử tồi kẻ nô.
38. Kiếp xưa buôn bán hại người,
Lợi to mình hưởng chỉ thời biết ta,
Nay thì tự chết trầm kha,
Treo thân lè lưỡi trông mà sởn gai.
39. Kiếp xưa ngăn kẻ đi chùa,
Báng chê Tam Bảo nhớt đùa thiện nhân,
Nay thì sét đánh tung thân,
Lửa thiêu khét thịt điện tần khô xương.
40. Ngày xưa kết oán gieo thù,
Hung hăng đâm chém lộn mù xát xô,
Ngày nay rắn cắn, hổ vồ,
Mèo điên, chó dại hết đồ hung hăng.
41. Đời xưa chê kẻ ăn mày,
Cười người nghèo khó nhạo bầy tha hương,
Ngày nay chết rục ngoài đường,
Ruồi bâu kiến đục hết phường vô nhân.
42. Kiếp xưa bạc ác vợ con,
Chân dần, tay tát mồm còn lu loa,
Ngày nay cô độc đến già,
Chó mèo cũng ghét lợn gà cũng khinh.
Nam mô Khai Chính Kiến Bồ Tát! (3 lần)
── Kinh Vu Lan Báo Hiếu ──
Tôi nghe thế này: Một khi Phật ở trong ngôi Tinh Xá, vườn ông Cấp Cô Độc, cây của Thái tử Kỳ Đà, cùng các Tăng già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người, cùng chư Bồ Tát. Bấy giờ Thế Tôn, cùng với đại chúng, nhân buổi nhàn du, đi về phía Nam, thấy đống xương khô, chất cao như núi, Đức Phật Thế Tôn, liền sụp lạy ngay, đống xương khô ấy.
Tôi bạch Phật rằng: Lạy Đức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi, chí tôn, chí quý, Thầy cả ba cõi, cha lành bốn loài, thiên thượng nhân gian, thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ, đống xương khô kia.
Đức Phật dạy rằng: Này A Nan con! Đống xương khô ấy, hoặc là ông bà hay là mẹ cha, của Ta thân trước, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay Ta chí thành kính lễ. Con đem xương này, chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho Ta.
Bạch Đức Thế Tôn! Con xem ở đời, phàm là con trai, ai cũng nhận ra đấy là nam giới; những người con gái, ai cũng nhận ra đó là giới nữ; người chết quá khứ, xương lẫn lộn nhau, chúng con biết đâu mà phân biệt được.
Đức Phật lại dạy: Này A Nan con! Về bên nam giới, thì xương sắc trắng, nhấc thấy nặng hơn. Còn như nữ giới, trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú tám thùng bốn đấu, sữa ở trong thân, giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói, thương xót vô cùng, mẹ tôi đã từng, hao mòn như thế, nghĩ mà rơi lệ, liền bạch Phật rằng:
Lạy Đức Thế Tôn! Công ơn cha mẹ, như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Đức Phật, rủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Đức Phật liền dạy: Này A Nan con! Về ơn đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không kể xiết:
1. Khi vừa một tháng ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng; trưa đã tiêu tan, khó lòng giữ được.
2. Khi được hai tháng ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
3. Khi được ba tháng ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
4. Khi được bốn tháng ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
5. Khi được năm tháng ở trong thai mẹ, mới đủ năm hình chân, tay, đầu, óc.
6. Khi được sáu tháng ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hình và ý.
7. Khi được bảy tháng ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi, những cái đốt xương; cùng là tám vạn bốn nghìn chân lông.
8. Khi được tám tháng ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý trí mới đủ, chín khiếu mới thông.
9. Khi được chín tháng ở trong thai mẹ, mới đủ hình người, ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống; thực tạng hướng lên, có một dãy núi, gồm có ba quả: Một là Tu Di, hai là núi Nghiệp, ba là núi Máu, núi này đồng thời hóa ra dòng máu, rót vào trong miệng.
10. Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần vẹn toàn mới đến ngày sinh. Nếu con có hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ, nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi, buốt chói từng hồi, khiến đau lòng mẹ, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao đâm vào gan ruột, mẹ khổ vô cùng nói sao cho xiết, sinh được thân này, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay!
Phật bảo A Nan: Công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con phải lo báo hiếu.
Thứ nhất ơn:
chín tháng mười ngày cưu mang nặng nhọc
Bao kiếp duyên cùng nợ
Ngày nay mới vào thai
Đầy tháng sinh phủ tạng
Bảy bảy sáu tinh khai
Thân trọng như non Thái
Động tĩnh sợ phong thai
Áo the đành xốc xếch
Gương lược biếng trang đài.
Thứ hai ơn: khi gần sinh nở
Khi gần ngày sinh nở
Nặng nhọc khổ sở thay
Cưu mang trong mười tháng
Vất vả biết bao ngày
Đứng ngồi và đi lại
Dáng vẻ tựa ngô ngây
Sợ hãi, lo cùng lắng
Tử sinh, giờ phút này!
Thứ ba ơn: lúc sinh nở
Mẹ ta khi sinh nở
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn
Máu me chan hòa đầy
Chờ nghe thấy con khóc
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Đương mừng lo lại đến
Rầu rĩ ruột gan này.
Thứ bốn ơn: ăn đắng nhả ngọt
Mẹ ta lòng thành thực
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con no ấm
Mẹ đói rét cũng vui.
Thứ năm ơn: xê con tự thấp
Tự mình nằm chỗ ướt
Chỗ ráo để xê con
Hai vú phòng đói khát
Hai tay ủ gió sương
Thâu đêm nằm chẳng ngủ
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ
Lòng mẹ mới được yên.
Thứ sáu ơn: bú mớm nuôi nấng
Đức mẹ dày như đất
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản câm, mù, điếc
Chẳng hiềm quắp chân tay!
Bởi vì con ruột thịt
Trọn đời dạ chẳng khuây.
Thứ bảy ơn: tắm gội giặt giũ
Vốn người có nhan sắc
Lại thêm phấn sáp xông
Mày xanh như liễu lục
Má đỏ tựa sen hồng
Giặt giũ khăn cùng tã
Dáy dơ chẳng quản công
Cốt sao quần áo sạch
Búi tóc gọn là xong.
Thứ tám ơn: đi xa lòng mẹ nhớ thương
Từ biệt lòng khôn nhẫn
Sinh ly dạ đáng thương
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn quê hương
Ngày đêm thường tưởng nhớ
Sớm tối vẫn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
Thứ chín ơn: vì sinh con mà cam lòng tạo bao ác nghiệp
Mẹ trải bao gian khổ
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo
Mẹ đói rách cũng vui
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người.
Thứ mười ơn: mẹ trọn đời thương yêu con
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa biển trời
Vắt cạn kiệt dòng sữa
Để cho con tươi cười
Mẹ già hơn trăm tuổi
Vẫn thương con tám mươi
Bao giờ ân oán hết
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi!
Công mẹ như trời biển, nhưng ở tại thế gian, nhiều những người con, mang tâm bất hiếu, chẳng nghĩ công ơn cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa thu mùa đông, rét run bức bối, chẳng lo sớm tối, ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt mười non, dày vò chửi giả, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, con nào hỏi han, gái trai tránh né, mặc thây cha mẹ, đêm ngày thở than!
Nếu là con trai, mang tâm bất hiếu khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng rằng e, sợ kẻ cười chê, nhưng đem quà bánh, cùng vô số thứ, cho vợ cho con, vợ con dặn bảo, vâng đúng như lời, cha mẹ hết hơi, không hề hối cải, coi tình vợ con trọng hơn công mẹ.
Nếu là con gái, mang tâm bất hiếu, khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo, khi đã gả bán, về ở nhà người, một ngày một lười, nhà ngoại không thiết, những ngày giỗ Tết, có đảo về qua, ví dụ mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận giữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, bạn bè thất thểu, tình nghĩa keo sơn, tỏ ra chăm chú, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình.
Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lìa, làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín càng không, tuyệt vô tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi, công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy đại chúng, nghe Phật nói ra! Công đức cha mẹ, cao tầy non Thái, nghe rồi sợ hãi, hối hận vô cùng, cảm động rưng rưng, khôn cầm nước mắt, lòng đau như cắt, tâm trí rối bời, đang từ chỗ ngồi, cùng nhau đứng dậy, hướng Phật mà lạy rồi nói lời này: Khổ thay! Khổ thay! Đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối, ngày nay biết hối thì sự đã rồi, đau đớn lòng tôi, trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ơn đức mẹ cha.
Đức Phật liền bảo, cặn kẽ mọi lời, này chúng sinh ơi! Muốn đền ơn nghĩa:
1. Một vì mẹ cha, nên chép kinh này, kính biếu đó đây, cho nhiều người tụng.
2. Hai vì mẹ cha, đọc tụng kinh này, hàng ngày chớ bỏ.
3. Ba vì mẹ cha, làm chay sám hối, sớm tối ăn năn.
4. Bốn vì mẹ cha, cúng dàng Tam Bảo, tùy ý sở dùng.
5. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày trai, phải nên nhớ giữ.
6. Sáu vì mẹ cha, thường hay bố thí, làm mọi việc lành.
Làm được như thế thực là con hiếu, cứu được mẹ cha.
Khi ấy A Nan, liền bạch Thế Tôn: Con lạy Đức Phật! Đây là Kinh gì?
Chúng con muốn trì, tụng được hay chăng.
Đức Phật dạy rằng: Chúng con nên biết, kinh này là Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân Chi Kinh. Tất cả chúng sinh, thảy đều nên tụng, khi ấy đại chúng, nghe Phật nói rồi, tin, kính, phụng hành, lễ tạ mà lui.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
── Kinh Cội Phước ──
Một thời, Thế Tôn trú tại Go-ma-ga (Gomagga), trong khu rừng Thi-xá-bà (Simsapà), dạy các Tỷ-kheo:
Do sự có mặt của ba pháp, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước. Thế nào là ba?
Do sự có mặt của lòng tin, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước. Do sự có mặt của vật bố thí, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước. Do sự có mặt của các vị xứng đáng cúng dường, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước.
Do sự có mặt của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Bố Thí Và Cúng Dường Như Pháp ──
Một thời, Thế Tôn trú ở Xá-vệ (Sàvatthi), tại Kỳ Viên (Jetavana), khu vườn của ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Lúc bấy giờ, mẹ của Nan-đà (Nanda), nữ gia chủ người Ve-lu-kan-da-ki (Velukandaki) làm một thí vật gồm có sáu phần cúng dường chúng Tăng. Bấy giờ, Thế Tôn với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhiên thấy mẹ của Nan-đà làm một thí vật gồm có sáu phần liền bảo các Tỷ kheo:
Này các Tỷ kheo, có ba phần thuộc về người bố thí và có ba phần thuộc về người nhận vật phẩm bố thí. Thế nào là ba phần thuộc về người bố thí? Này các Tỷ kheo, người bố thí, trước khi bố thí, ý được vui lòng; trong khi bố thí, tâm được tịnh tín; sau khi bố thí, cảm thấy hoan hỷ. Đây là ba phần của người bố thí. Thế nào là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí? Ở đây, này các Tỷ kheo, những người nhận phẩm vật bố thí, đã được ly tham hay đang thực hành hạnh ly tham; đã được ly sân hay đang thực hành hạnh ly sân; đã được ly si hay đang thực hành hạnh ly si. Đây là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí. Như vậy, này các Tỷ kheo, đây là thí vật có sáu phần.
Này các Tỷ kheo, công đức của thí vật sáu phần thật vô lượng: “Là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, hạnh phúc và an lạc”.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Nhân Duyên Của Giàu Và Nghèo ──
Một thời, Thế Tôn ở Xá-vệ (Sàvatthi), tại tinh xá ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Có thanh niên Su-ba Tô-đây-da-pu-ta (Subha Todeyyaputta) đi đến đảnh lễ, bạch Thế Tôn:
Thưa Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì giữa loài người với nhau, chúng tôi thấy có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn?
Này Thanh niên, hãy nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói:
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông không bố thí, cúng dường cho Sa môn hay Bà la môn các đồ ăn uống, y phục, xe cộ, ngọa cụ, y dược, đèn đuốc, nhà cửa... Do nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú và đọa xứ. Nếu được sanh vào loài người, người ấy phải chịu nghèo hèn, có tài sản nhỏ.
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông có bố thí và cúng dường cho Sa môn hay Bà la môn các đồ ăn uống, y phục, xe cộ, ngọa cụ, y dược, đèn đuốc, nhà cửa... Do nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào thiện thú, thiên giới. Nếu sanh vào loài người, người ấy được giàu sang, có tài sản lớn.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Trung Bộ)
── Kinh Hai Hạng Người Đáng Được Cúng Dường ──
Một thời, Thế Tôn ở tại Xá-vệ (Sàvatthi), vườn ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Rồi gia chủ Cấp Cô Độc đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn:
Có bao nhiêu hạng người, bạch Thế Tôn, đáng được cúng dường ở đời? Và chỗ nào cần phải bố thí và cúng dường?
Này gia chủ, có hai hạng người đáng được cúng dường ở đời: Hữu học và Vô học. Đối với hai hạng người này xứng đáng được cúng dường ở đời. Và này gia chủ, ở đây (tinh xá Kỳ Viên) cần phải bố thí và cúng dường.
Hữu học và Vô học,
Cả hai ở trong đời,
Đều đáng được cúng dường,
Đối với người dâng cúng,
Phải giữ thân chánh trực,
Cả lời nói, ý nghĩ,
Phước điền người dâng cúng,
Đây thí có quả lớn.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Giữ Gìn Tài Sản ──
Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Câu-lợi (Koliya), tại thị trấn Ka-ka-ra-pa-ta (Kakakrapatta). Rồi Ba-ga-pa-da (Byagghapajja), đi đến đảnh lễ, bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, chúng con là những người gia chủ thọ hưởng các dục vọng, sống trói buộc với vợ con, dùng hương chiên đàn, đeo vòng hoa, thọ lãnh vàng bạc. Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp cho những người như chúng con, để chúng con được hạnh phúc, an lạc trong hiện tại…
Này Ba-ga-pa-da, có bốn cửa xuất để tài sản bị tiêu phí: Đam mê đàn bà; đam mê rượu chè; đam mê cờ bạc; bạn bè, thân hữu và giao du với kẻ ác. Ví như một hồ nước lớn, có bốn cửa nước chảy vào và bốn cửa nước chảy ra. Có người đóng các cửa nước chảy vào và mở các cửa nước chảy ra. Như vậy, nước hồ ấy ngày càng bị giảm thiểu, không tăng trưởng.
Lại nữa, này Ba-ga-pa-da, có bốn cửa nhập để tài sản được hưng khởi: Không đắm say đàn bà; không đắm say rượu chè; không đắm say cờ bạc; bạn bè, thân hữu và giao du với người thiện. Ví như một hồ nước lớn, có bốn cửa nước chảy vào và bốn cửa nước chảy ra. Có người mở các cửa nước chảy vào và đóng các cửa nước chảy ra. Như vậy, nước hồ ấy ngày càng tăng trưởng, không có giảm thiểu.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Phước Báo Thù Thắng Của Bố Thí ──
Một thời, Thế Tôn trú thành Xá Vệ (Sàvatthi), trong tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), tại khu vườn ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Rồi Su-ma-na (Sumanà) con gái vua cùng năm trăm thiếu nữ hộ tống, đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn:
Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai vị ấy được sanh lên cõi trời hoặc sanh lại cõi người thì giữa hai vị ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
Có sự sai biệt, này Su-ma-na!
Người có bố thí, khi được làm một vị trời hoặc được làm người đều vượt qua người không bố thí trên năm phương diện. Đó là thọ mạng, nhan sắc, an lạc, danh xưng và tăng thượng. Người có bố thí, này Su-ma-na, khi được làm vị trời hoặc được làm người đều vượt qua người không bố thí về năm phương diện này.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Trường Thọ Và Đoản Thọ ──
Một thời, Thế Tôn ở Xá-vệ (Sàvatthi), tại Kỳ Viên (Jetavana), tinh xá ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Có thanh niên Su-ba Tô-đây-da-pu-ta (Subha Todeyyaputta) đi đến Thế Tôn, sau khi chào và hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:
Thưa Tôn giả Go-ta-ma (Gotama), do nhân gì, do duyên gì giữa loài người với nhau, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có người trường thọ…?
Vậy, này Thanh niên, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông sát sinh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại, đả thương, tâm không từ bi đối với các loại chúng sanh. Do nghiệp ấy, sau khi mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú. Nếu được tái sanh trong loài người, người ấy phải đoản mạng.
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh. Do nghiệp ấy, sau khi mạng chung được sanh vào thiện thú, thiên giới. Nếu tái sanh trong loài người, người ấy được trường thọ.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Trung Bộ)
── Kinh Vu Khống Bậc Thánh ──
Một thời, Thế Tôn trú ở Xá-vệ (Sàvatthi) tại Kỳ Viên (Jetavana), trong khu vườn của ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Rồi Tỷ-kheo Cù-ca-lê (Kokàliya) đi đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Xá Lợi Phất (Sàriputta) và Mục Kiều Liên (Moggallàna) là ác dục, bị ác dục chinh phục.
- Này Cù-ca-lê, chớ có vậy! Này Cù-ca-lê, chớ có vậy! Này Cù-ca-lê, tâm hãy tịnh tín đối với Xá Lợi Phất và Mục Kiều Liên. Hiền thiện Xá Lợi Phất và Mục Kiều Liên.
Lần thứ hai, Tỷ-kheo Cù-ca-lê lại bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, nhưng đối với con, Xá Lợi Phất và Mục Kiều Liên là ác dục, bị ác dục chinh phục.
(Thế Tôn đã ba lần khuyến cáo Cù-ca-lê như trên.)
Rồi Tỷ-kheo Cù-ca-lê từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn và ra đi. Tỷ-kheo Cù-ca-lê ra đi không bao lâu, toàn thân nổi lên những mụn to bằng hạt cải; sau khi lớn lên bằng hạt cải, chúng lớn lên bằng hạt đậu; sau khi lớn lên bằng hạt đậu, chúng lớn lên bằng hòn đá; sau khi lớn lên bằng hòn đá, chúng lớn lên bằng trái táo… Sau cùng chúng bị vỡ ra, mủ và máu chảy ra.
Rồi Tỷ-kheo Cù-ca-lê do bệnh này mà mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỷ-kheo Cù-ca-lê sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Xá Lợi Phất và Mục Kiều Liên.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tiểu Bộ)
── Kinh Quả Báo ──
Một thời, Thế Tôn trú ở Vương Xá (Ràjagaha), tại Trúc Lâm (Veluvana). Bấy giờ, Tôn giả Mục Kiều Liên (Moggallàna) trú ở núi Linh Thứu (Gijjhakùta), khi từ núi bước xuống liền mỉm cười. Các Tôn giả khác thấy vậy hỏi nguyên nhân, Mục Kiều Liên đáp:
Ở đây, này các Hiền giả, khi từ núi Linh Thứu bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni giữa hư không. Y của vị này bị cháy đỏ rực, đỏ ngọn. Bình bát, cái nịt, thân thể cũng bị cháy đỏ rực, đỏ ngọn. Vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Này các Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: Thật hy hữu thay! Một kẻ như vậy lại trở thành một chúng sanh, một Dạ xoa như vậy.
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:
Xưa kia Ta cũng thấy vị Sa di ni ấy nhưng Ta không nói, bởi nếu có nói, các người khác cũng không tin.
Này các Tỷ kheo, vị Sa di ni ấy là một ác Sa di ni trong thời Bậc Chánh Đẳng Giác Ca-diếp (Kassapa) thuyết pháp. Do ác nghiệp người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, với quả báo còn lại, vị ấy cảm thọ một thân thể như vậy.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tương Ưng Bộ)
── Kinh Hai Loại Tội ──
Một thời, Thế Tôn trú ở Xá-vệ (Sàvatthi), tại khu vườn ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, có hai loại tội. Thế nào là hai? Tội có kết quả ngay trong hiện tại và tội có kết quả trong đời sau.
Thế nào là tội có kết quả ngay trong hiện tại? Này các Tỷ-kheo, khi thấy nhà vua bắt được kẻ trộm, kẻ vô loại, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ bị đánh bằng roi cho đến bị chặt đầu. Thấy vậy liền suy nghĩ: Do làm các nghiệp ác nên mới bị các hình phạt như vậy. Nghĩ vậy, người ấy sợ hãi tội lỗi trong hiện tại.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội có kết quả trong đời sau? Ở đây, có người suy xét như sau: Quả báo dị thục của thân khẩu ý ác, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục. Nghĩ vậy, người ấy sợ hãi tội lỗi trong đời sau.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả hiện tại và trong đời sau. Chúng ta phải thấy rõ sự nguy hiểm và tránh xa các tội.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Khuyến Hóa Cha Mẹ Hướng Thiện ──
Một thời, Thế Tôn ở Xá-vệ (Sàvatthi), tại vườn ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với cha mẹ theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào trí tuệ. Như vậy là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Phước Báo Hiếu Dưỡng ──
Một thời Thế Tôn trú ở Xá-vệ (Sàvatthi). Rồi Bà la môn Ma-ta-pô-sa-ka (Màtaposaka) đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn:
Thưa Tôn giả Go-ta-ma (Gotama), tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, sau đó tôi nuôi dưỡng mẹ cha. Thưa Tôn giả Go-ta-ma, tôi làm như vậy có đúng trách nhiệm không?
Này Bà la môn, ông làm như vậy là đúng trách nhiệm. Này Bà la môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp, sau đó nuôi dưỡng mẹ cha thì người ấy được nhiều công đức.
Thế Tôn nói kệ:
Người nào theo thường pháp
Nuôi dưỡng mẹ và cha
Chính do công hạnh này
Đối với cha với mẹ
Nhờ vậy bậc Hiền Thánh
Trong đời này tán thán
Sau khi chết được sanh
Hưởng an lạc chư Thiên.
Khi được nghe như vậy, Bà la môn Ma-ta-pô-sa-ka bạch Thế Tôn:
Thật vi diệu thay, Tôn giả Go-ta-ma! Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tương Ưng Bộ)
── Kinh Ngày Lành Tháng Tốt ──
Một thời Thế Tôn trú ở thành Vương Xá (Ràjagaha). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Các loài hữu tình nào, này các Tỷ-kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, có một buổi sáng tốt đẹp.
Các loài hữu tình nào, này các Tỷ-kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, có một buổi trưa tốt đẹp.
Các loài hữu tình nào, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.
Này các Tỷ-kheo:
Vầng sao lành, điều lành
Rạng đông lành, dậy lành
Sát na lành, thời lành
Cúng dường bậc Phạm hạnh
Thân nghiệp chánh, lời chánh
Ý nghiệp chánh, nguyện chánh
Làm các điều chân chánh
Được lợi ích chân chánh
Thì được lợi, an lạc
Lớn mạnh trong Phật giáo
Hãy không bệnh, an lạc
Cùng tất cả bà con.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Ba Hạng Người Nghe Pháp ──
Một thời, Thế Tôn trú ở thành Xá Vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc dạy các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người này xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người với trí tuệ lộn ngược? Ở đây, có hạng người thường đi nghe pháp. Người ấy, đối với bài thuyết giảng không có tác ý đến đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Khi đứng dậy, đối với bài thuyết giảng không có tác ý đến đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Ví như, một cái ghè lộn ngược, nước chứa trong ghè tuôn chảy, không dừng lại.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, có hạng người thường đi nghe pháp. Người ấy, đối với bài thuyết giảng có tác ý đến đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Nhưng khi đứng dậy, đối với bài thuyết giảng không có tác ý đến đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Ví như, trên bắp vế một người, để các hạt đậu, hạt gạo. Khi người ấy đứng dậy, khiến tất cả đều rơi vãi.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người với trí tuệ rộng lớn? Ở đây, có hạng người thường đi nghe pháp: Người ấy, đối với bài thuyết giảng có tác ý đến đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Khi đứng dậy, đối với bài thuyết giảng có tác ý đến đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Ví như, một cái ghè dựng đứng, nước chứa trong ấy được giữ lại, không có chảy đi.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Trích soạn từ: kinh Tăng Chi Bộ)
── Kinh Tam Bảo ──
Xin thỉnh chư Thiên ngự trên cõi trời Dục giới cùng Sắc giới; Chư Thiên ngự trên đỉnh núi, núi không liền, hoặc nơi hư không; ngự nơi cồn bãi, đất liền hoặc các châu quận; ngự trên cây cối rừng rậm hoặc ruộng vườn; chư Dạ Xoa, Càn Thát Bà, cùng Long Vương dưới nước trên bờ, hoặc nơi không bằng phẳng gần đây, xin thỉnh hội họp lại đây. Lời này là kim ngôn cao thượng của Đức CÙ ĐÀM mà chúng tôi tụng đây.
Xin các bậc hiền triết hãy lắng nghe lời này.
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Phát sinh lòng hoan hỷ
Chính tâm và thành ý
Lắng nghe lời dạy này:
Tất cả chúng thiên nhân
Hãy bi mẫn đồng tâm
Lòng từ luôn rộng mở
Năng chuyên cần gia hộ
Đối với nữ nam nào
Ngày đêm thường bố thí.
Phàm những tài sản gì
Đời này hoặc đời sau
Ngọc báu hay trân châu
Có cùng khắp thiên giới
Nhưng chẳng gì sánh nổi
Đức Thiện Thệ Như Lai
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Ly dục, diệt phiền não
Pháp diệu thù bất tử
Phật Thích – ca Mâu-ni
Đắc Tịch tịnh, Vô vi
Trong Thiền, chứng ngộ Pháp
Chẳng pháp nào sánh nổi
Chính Pháp Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Bậc Vô thượng Chính Giác
Hằng ca ngợi Pháp Thiền
Trong sạch, không gián đoạn
Chẳng Thiền nào sánh nổi
Chính Pháp Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Thánh bốn đôi, tám vị
Bậc thiện hằng tán dương
Đệ tử đấng Thiện Thệ
Xứng đáng được cúng dường
Bố thí các vị ấy
Được kết quả vô lượng
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Các Ngài tâm kiên cố
Ly dục sống Thánh Đạo
Khéo chân chính thiện hành
Lời Phật Gotama
Chứng đạt được quả vị
Thể nhập đạo Bất Tử
Hưởng tịch tịnh dễ dàng
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Ví như cột trụ đá
Khéo y tựa lòng đất
Dầu gió bão bốn phương
Chẳng thể nào lay động
Ta nói bậc Chân Nhân
Liễu ngộ Tứ thánh đế
Cũng tự tại, bất động
Trước Tám pháp thế gian
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Bậc Thánh Tu-đà-hoàn
Thấy rõ lý Tứ đế
Mà đức Chuyển Pháp Vương
Có trí tuệ thậm thâm
Đã khéo giảng, khéo dạy
Các Ngài dù phóng dật
Cũng chẳng thể tái sinh
Nhiều hơn trong bảy kiếp
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Nhờ vững chắc chính kiến
Nhờ kiên cố chính tri
Đoạn lìa ba trói buộc
Là Thân kiến, Hoài nghi
Luôn cả Giới cấm thủ
Ra khỏi bốn đọa xứ
Không tạo sáu trọng nghiệp
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Bậc Thánh Tu-đà-hoàn
Dẫu vô tâm phạm lỗi
Bằng ý, lời hay thân
Chẳng bao giờ khuất lấp
Bởi vì đức tính này
Được gọi là “thấy Pháp”
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Ví như cây trong rừng
Đâm chồi đầu mùa hạ
Cũng vậy, đức Thế Tôn
Thuyết giảng pháp Siêu việt
Pháp đưa đến Niết-bàn
Tối thượng, vô năng thắng
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Đức Phật - bậc Vô thượng
Liễu thông pháp Vô thượng
Ban bố pháp Vô thượng
Chuyển đạt pháp Vô thượng
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Nghiệp cũ đã chấm dứt
Nghiệp mới không tạo nên
Nhàm chán kiếp lai sinh
Chủng tử dục diệt tận
Ví như ngọn đèn tắt
Bậc trí chứng Niết-bàn
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc.
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Phật
Đã như thật xuất hiện
Mà chư thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc.
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Pháp
Đã như thật xuất hiện
Mà chư Thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc.
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Tăng
Đã như thật xuất hiện
Mà chư thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
(Nguồn: kinh Tiểu Bộ)