• Tag
  • Bộ Bổn Duyên
  • Kinh Điển Đại Thừa
  • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán

Hán dịch: Đường Bát Nhã

Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

***

Phẩm 1: TỰA

Chính tôi được nghe:

Một thời Đức Phật ở trong núi Kỳ xà quật, thuộc thành Vương xá cùng với ba vạn hai ngàn đại Tỳ kheo. Các vị đều là bậc A la hán: tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát, chỗ tạo tác đã xong, bỏ mọi gánh nặng, việc lợi mình đã được, hết mọi sự ràng buộc trong các cõi, đạt được đại tự tại, an trụ trong giới phẩm thanh tịnh, phương tiện khéo léo, trí tuệ trang nghiêm, chứng được tám pháp giải thoát, đến bờ Niết bàn. Tên của các vị ấy là Cụ thọ A-Nhã-Kiều-Trần-Như, A-Sử-Bỉ-Thất-Đa, Ma-Ha-Na-Ma, Ba-Đế-Lợi-Ca, Ma-Ha Ca-Diếp, Kiều-Phạm-Ba-Đề, La-Ba-Đa, Ưu-Lâu-Tần-Loa Ca-Diếp, Na-Đề Ca-Diếp, Già-Gia Ca-Diếp, Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Ma-ha Ca-Chiên-Diên, Ma-ha Ca-Tỳ-Na, Chân-Đề-Na, Phú-Lâu-Na, Di-Đa-La-Ni-Tử, A-Ni-Lâu-Đà, Vi-Diệu-Tý, Tu-Bồ-Đề, Bạc-Câu-La, Tôn-Đà-La-Nan-Đà, La-Hầu-La… các vị như thế đều là Cụ thọ, A la hán.

Và có những bậc Hữu học như ông A-Nan… đều cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc, cùng nhau đảnh lễ chân Phật, rồi lui ra ngồi về một bên.

Lại có tám vạn bốn ngàn vị Đại Bồ tát cùng ở chỗ Đức Phật. Các vị đều là Đại Pháp vương tử, Nhất sinh bổ xứ, có uy đức lớn như Đại Long vương, trăm phước viên mãn, thân quang chói lọi như ngàn mặt trời làm quang đãng mọi tối tăm, trí tuệ lắng suốt, hơn cả biển lớn; hiểu thấu cảnh giới bí mật của chư Phật, đốt đuốc đại pháp, dẫn dắt chúng sinh; làm bậc Đại thuyền sư trong bể sinh tử, thương xót chúng sinh như con đỏ, thường bố thí cho chúng sinh sự an vui trong mọi lúc, tiếng khen đồn khắp mười phương thế giới; thần thông vi diệu, lực dụng tự tại, đã thấu rõ được các môn Tổng trì; đủ bốn pháp biện tài vô ngại tự tại, đã viên mãn được đại nguyện tự tại, thành tựu tốt đẹp sự nghiệp tự tại, đã chứng nhập được Tam muội tự tại, hoàn toàn viên mãn phước đức tự tại; thường là người bạn không phải thỉnh của chúng sinh, trải qua vô lượng kiếp siêng tu Sáu độ, luôn phụng sự chư Phật khắp nơi, không an trụ nơi Niết bàn; dứt mọi phiền não, chủng tử tập khí đều trừ, tuy sinh trong sáu đường nhưng không hề vướng mắc lỗi lầm, luôn hiện thân khắp mười phương giảng thuyết diệu pháp, trong vô lượng thế giới, giáo hóa, đem lại lợi ích cho mọi loài; ngăn ngoại đạo, nén dẹp tâm tà, xa lìa nhân chấp đoạn, chấp thường, làm cho chúng sinh sinh ra chánh kiến mà không còn có tướng dao động, lui tới; chẳng phải trang nghiêm mà là làm trang nghiêm cả mười phương cõi Phật, không nói mà như nói ra tất cả diệu lý tịch diệt, an trụ nơi vô sở trụ, độ chúng sinh trong các cõi trời, người; thọ nhận nơi vô sở thọ các pháp mầu vui vẻ, rộng lớn; mặc áo giáo tinh tấn, cầm gươm trí tuệ, đánh vang trống pháp, phá bọn ma quân; thân thường thị hiện ngồi khắp trong đạo tràng, thổi loa đại pháp để giác ngộ mọi loài; tất cả các loài hữu tình đều được nhờ lợi ích, ai nghe qua tên hiệu, trông thấy sắc thân đều có được ba trí, ngộ được pháp của ba đời; biết rõ các căn lanh lợi, ngu độn của chúng sinh, tùy bệnh cho thuốc, không còn mọi thứ nghi hoặc; chia rải mây pháp lớn, rưới mưa cam lộ, chuyển trí ấn pháp luân không thoái chuyển, đóng ngục sinh tử, mở cửa Niết bàn; phát thệ nguyện rộng cho đến khi hết đời vị lai, nguyện độ thoát tất cả quần sinh. Các vị Bồ tát ấy không bao lâu sẽ được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị ấy là: Bồ tát Vô-Cấu, Bồ tát Di-Lặc, Bồ tát Sư-Tử-Hống, Bồ tát Diệu-Cát-Tường, Bồ tát Duy-Ma-Cật, Bồ tát Quán-Tự-Tại, Bồ tát Đắc-Đại-Thế, Bồ tát Kim-Cang-Tạng-Vương, Bồ tát Địa-Tạng-Vương, Bồ tát Hư-Không-Tạng-Vương, Bồ tát Đà-La-Ni Tự-Tại-Vương, Bồ-tát Tam-Muội Tự-Tại-Vương, Bồ tát Diệu-Cao-Sân-Vương, Bồ tát Đại-Hải-Thâm-Vương, Bồ tát Diệu-Biện-Nghiêm-Vương, Bồ tát Hoan-Hỷ-Cao-Vương, Bồ tát Đại-Thần-Biến-Vương, Bồ tát Pháp-Tự-Tại-Vương, Bồ tát Thanh-Tịnh-Vũ-Vương, Bồ tát Dược-Vương, Bồ tát Dược-Thượng, Bồ tát Liệu-Phiền-Não-Bệnh, Bồ tát Bảo-Sân, Bồ tát Bảo-Tài, Bồ tát Bảo-Thượng, Bồ tát Bảo-Đức, Bồ tát Bảo-Tạng, Bồ tát Bảo-Tích, Bồ tát Bảo-Thủ, Bồ tát Bảo-Thủ-Ấn, Bồ tát Bảo-Quang, Bồ tát Bảo-Thí, Bồ tát Bảo-Tràng, Bồ tát Đại-Bảo-Tràng, Bồ tát Bảo-Vũ, Bồ tát Bảo-Đạt, Bồ tát Bảo-Trượng, Bồ tát Bảo-Kế, Bồ tát Bảo-Cát-Tường, Bồ tát Bảo-Tự-Tại, Bồ tát Chiên-Đàn-Hương, Bồ tát Đại-Bảo-Cự, Bồ tát Đại-Bảo-Nghiêm, Bồ tát Nhật-Quang, Bồ tát Nguyệt-Quang, Bồ tát Tinh-Quang, Bồ tát Hỏa-Quang, Bồ tát Điện-Quang, Bồ tát Năng-Niệm-Tuệ, Bồ tát Phá-Ma, Bồ tát Thắng-Ma, Bồ tát Thường-Tinh-Tấn, Bồ tát Bất-Hưu-Tức, Bồ tát Bất-Đoạn-Đại-Nguyện, Bồ tát Đại-Danh-Xưng, Bồ tát Vô-Ngại-Biện-Tài, Bồ tát Vô-Ngại-Chuyển-Pháp-Luân. Các vị Bồ tát như Đại Bồ tát Vô-Cấu… trên đây như thế, cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Đức Phật thuyết pháp.

Lại có ức vạn Thiên tử nơi sáu cõi trời thuộc Dục giới như Thiên tử Thiện-Trụ, Thiên tử Uy-Đức, Thiên tử Phổ-Quang, Thiên tử Thanh-Tịnh-Tuệ, Thiên tử Cát-Tường, Thiên tử Đại-Cát-Tường, Thiên tử Tự-Tại, Thiên tử Đại-Tự-Tại, Thiên tử Nhật-Quang, Thiên tử Nguyệt-Quang… Trong số các vị Thiên tử đó, Thích Đề-Hoàn-Nhân làm Thượng thủ. Và, các vị đều ưa thích diệu pháp Đại thừa, nguyện theo và phụng sự Như Lai trong ba đời, vào cảnh giới bí mật bất tư nghị, làm trang nghiêm các hội đạo tràng của chư Phật. Tất cả các vị Thiên tử ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều đến pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có hằng hà sa Thiên tử trong cõi sắc như Thiên tử Đại-Quang-Phổ-Chiếu, Thiên tử Vô-Cấu-Trang-Nghiêm, Thiên tử Thần-Thông-Du-Hý, Thiên tử Tam-Muội-Tự-Tại, Thiên tử Đà-La-Ni Tự-Tại, Thiên tử Đại-Đà-La-Diên, Thiên tử Viên-Mãn-Thượng-Nguyện, Thiên tử Vô-Ngại-Biện-Tài, Thiên tử Cát-Tường-Phước-Tuệ, Thiên tử Thường-Phát-Đại-Nguyện… Trong số các vị Thiên tử này, Quang-Minh-Đại-Phạm Thiên vương làm Thượng thủ. Các vị ấy đều đầy đủ các pháp Tam muội, thần thông, ưa thuyết giảng, giỏi biện tài, thường phụng sự chư Phật Như Lai trong ba đời từ khi ở bên gốc cây Bồ đề, ngồi tòa Kim cang phá ma quân rồi, chứng đạo Bồ đề cho đến khắp các chúng hội và đều ở trong lúc đầu tiên, khuyến thỉnh Như Lai chuyển xe diệu pháp, mở cửa cam lộ, độ tất cả chúng sinh trong cõi trời, người; khéo ngộ được nghĩa lý sâu xa bí mật của chư Phật, đối với đạo Đại Bồ đề, không còn thoái chuyển. Tất cả các vị Thiên tử ấy cùng với tất cả trăm ngàn quyến thuộc, đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có bốn vạn tám ngàn vị Đại Long vương như Long vương Ma-Na-Tư, Long vương Đức-Xoa-Ca, Long vương Nan-Đà, Long vương Bạt-Nan-Đà, Long vương A-Nốc-Đạt-Trì, Long vương Đại-Kim-Diện, Long vương Như-Ý-Bảo-Châu, Long vương Vũ-Diệu-Trân-Bảo, Long vương Thường-Chú-Cam-Vũ, Long vương Hữu-Đại-Uy-Đức, Long vương Cường-Lực-Tự-Tại… Trong các vị Long vương này, Long vương Sa-Kiệt-La làm Thượng thủ. Các vị ấy đều ưa thích diệu pháp Đại thừa, phát thệ nguyện rộng, cung kính hộ trì chánh pháp. Tất cả các vị đại Long vương ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có năm vạn tám ngàn thần Dược xoa như thần Dược xoa Đại-Sư-Tử vương, thần Dược xoa Chuyển-Luân-Quang-Chiếu, thần Dược xoa Diệu-Na-La-Diên, thần Dược xoa Thậm-Khả-Bố-Úy, thần Dược xoa Liên-Hoa-Quang-Sắc, thần Dược xoa Chư-Căn-Mỹ-Diệu, thần Dược xoa Ngoại-Hộ-Chánh-Pháp, thần Dược xoa Cúng-Dường-Tam-Bảo, thần Dược xoa Vũ-Chúng-Trân-Bảo, thần Dược xoa Ma-Ni-Bát-la, … Trong số các vị thần này, thần Dược xoa Tăng-Thận-Nhĩ-Tà làm Thượng thủ. Các vị ấy đều đầy đủ ánh sáng trí tuệ khó nghĩ bàn, ngọn đuốc trí tuệ khó nghĩ bàn, hành tướng trí tuệ khó nghĩ bàn, giới đức trí tuệ khó nghĩ bàn, thường vì chúng sinh chế phục những loại ác quỷ, khiến họ được an vui lớn, làm cho phước đức, trí tuệ được tăng trưởng; luôn nối tiếp và giữ gìn pháp Đại thừa không bị đoạn tuyệt. Tất cả các vị thần Dược xoa này cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có tám vạn chín ngàn Càn-thát-bà vương như Càn-thát-bà vương Đỉnh-Thượng-Bảo-Quan, Càn-thát-bà vương Phổ-Phóng-Quang-Minh, Càn-thát-bà vương Kim-Cang-Bảo-Tràng, Càn-thát-bà vương Diệu-Âm-Thanh-Tịnh, Càn-thát-bà vương Biến-Chí-Chúng-Hội, Càn-thát-bà vương Phổ-Hiện-Chư-Phương, Càn-thát-bà vương Ái-Nhạo-Đại-Thừa, Càn-thát-bà vương Chuyển-Bất-Thoái-Luân… Trong số các vị Càn-thát-bà vương này, Càn-thát-bà vương Chư-Căn-Thanh-Tịnh làm Thượng thủ. Các vị ấy đối với Đại thừa đều sinh lòng ái kính sâu xa, làm lợi lạc cho chúng sinh, không bao giờ lười chán, mệt mỏi. Tất cả các vị Càn-thát-bà vương ấy cùng với hàng trăm, ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có ngàn ức A-tu-la vương như A-tu-la vương La-hầu-La, A-tu-la vương Tỳ-Ma-Chất-Đa, A-tu-la vương Xuất-Hiện-Uy-Đức, A-tu-la vương Đại-Kiên-Cố-Lực, A-tu-la vương Mỹ-Diệu-Âm-Thanh, A-tu-la vương Quang-Minh-Biến-Chiếu, A-tu-la vương Đấu-Chiến-Hằng-Thắng, A-tu-la vương Thiện-Xảo-Hiển-Hóa… Trong số các vị A-tu-la vương này, có A-tu-la vương Quảng-Đại-Diệu-Biện làm Thượng thủ. Các vị ấy đều khéo tu tập, xa lìa ngã mạn, thọ trì pháp Đại thừa, tôn kính Tam bảo. Tất cả các vị A-tu-la vương ấy cùng với trăm ngàn quyến thuộc tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có năm ức Ca-lâu-la vương như Ca-lâu-la vương Bảo Kế, Ca-lâu-la vương Kim-Cang-Tịnh-Quang, Ca-lâu-la vương Tốc-Tật-Như-Phong, Ca-lâu-la vương Hư-Không-Tịnh-Tuệ, Ca-lâu-la vương Diệu-Thân-Quảng-Đại, Ca-lâu-la vương Tâm-Bất-Thoái-Chuyển, Ca-lâu-la vương Quảng-Mục-Thanh-Tịnh, Ca-lâu-la vương Đại-Phúc-Bảo-Mãn, Ca-lâu-la vương Hữu-Đại-Uy-Đức, Ca-lâu-la vương Trí-Tuệ-Quang-Minh. Trong số các vị Ca-lâu-la vương này, Ca-lâu-la vương Như-Ý-Bảo-Quang làm Thượng thủ. Các vị ấy đều thành tựu Pháp nhẫn bất khởi, khéo đem lại được những sự lợi ích cho tất cả chúng sinh. Tất cả các vị Ca-lâu-la vương ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có chín ức Khẩn-na-la vương như Khẩn-na-la vương Động-Địa, Khẩn-na-la vương Diệu-Bảo-Hoa-Tràng, Khẩn-na-la vương Bảo-Thọ-Quang-Minh, Khẩn-na-la vương Thiện-Pháp-Quang-Minh, Khẩn-na-la vương Tối-Thắng-Trang-Nghiêm, Khẩn-na-la vương Hỏa-Pháp-Quang-Minh, Khẩn-na-la vương Thọ-Trì-Diệu-Pháp, Khẩn-na-la vương Diệu-Bảo-Nghiêm-Sức, Khẩn-na-la vương Thành-Tựu-Diệu-Quán… Trong số các Khẩn-na-la vương này, Khẩn-na-la vương Duyệt-Ý-Nhạc-Thanh làm Thượng thủ. Các vị ấy đều đầy đủ diệu tuệ thanh tịnh, thân tâm vui thích, dụng lực tự tại. Tất cả các vị Khẩn-na-la vương ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có chín vạn tám ngàn Ma-hầu-la-già vương như Ma-hầu-la-già vương Diệu-Kế, Ma-hầu-la-già vương Cụ-Đại-Uy-Đức, Ma-hầu-la-già vương Trang-Nghiêm-Bảo-Kế, Ma-hầu-la-già vương Tịnh-Nhãn-Vi-Diệu, Ma-hầu-la-già vương Quang-Minh-Bảo-Tràng, Ma-hầu-la-già vương Sư-Tử-Hung-Ức, Ma-hầu-la-già vương Như-Sân-Bất-Động, Ma-hầu-la-già vương Khả-Ái-Quang-Minh… Trong số các vị Ma-hầu-la-già vương này, Ma-hầu-la-già vương Du-Hý-Thần-Thông làm Thượng thủ. Các vị ấy đã tu tập được phương tiện thiện xảo, làm cho chúng sinh bỏ hẳn mọi sự trói buộc của ái dục. Tất cả các vị Ma-hầu-la-già-vương ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

-Bạch Đức Thế Tôn, nay chúng con không cầu quả báo hữu lậu trong ba cõi của hàng trời, người. Chúng con chỉ cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác xuất thế gian mà thôi. Sở dĩ như thế là vì trong ba cõi tuy ở nơi tôn quý, hưởng phước vui nơi hàng trời, người, nhưng, khi phước đời trước hết lại phải sinh vào nẻo xấu ác chịu vô lượng khổ, như thế ai là người có trí tuệ lại ưa thích sự vui sướng ở thế gian này!

Các vị Chuyển luân nói lời ấy rồi đều nhất tâm chắp tay và cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc của họ đều an tọa nơi pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có vô số người như Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, các Bà-la-môn, Sát-đế-lỵ, Phệ-xá, Thú-đạt-la, cùng các Trưởng giả, Cư sĩ, tất cả nhân dân trong các cõi nước. Các đại chúng ấy phát khởi lòng tin thanh tịnh, ân sâu nặng, vì xưa kia đã từng vun trồng căn lành, nên sinh ra được gặp Phật nghe pháp và vì cầu đạo xuất thế, nên khởi ra tưởng khó gặp, mà tới chỗ Phật. Tới nơi, các vị ấy đều phát tâm, chắp tay và cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều ngồi nơi pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có vô số đồ chúng ngoại đạo như Khổ-hạnh ngoại đạo, Thế-trí ngoại đạo, Nhạo-viễn-ly ngoại đạo, Lộ-già-gia-đà ngoại đạo, mà Lộ-già-gia-trị-ca-nễ ngoại đạo làm Thượng thủ. Các ngoại đạo ấy đã thành tựu năm pháp thần thông bay đi tự tại và phát tâm hy hữu, vì nhân duyên nghe pháp nên đi tới chỗ Đức Phật; mỗi vị cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều tới pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có vô lượng vô số phi nhân ngạ quỷ như quỷ Vô Tài, quỷ Thực-Nhân-Thổ, quỷ Não-Chúng-Sinh, quỷ Thực-Di-Thóa, quỷ Thọc-Bất-Bão, quỷ Xú-Cực-Xú, quỷ Thực-Phẩn-Uế, quỷ Thực-Nhân-Thai, quỷ Thực-Sinh-Tử, quỷ Thực-Bất-Tịnh, quỷ Sinh-Cát-Tường. Trong các loại quỷ ấy, đại Quỷ thần vương Tỳ-Lô-Đà-Già làm Thượng thủ. Các quỷ ấy đều lìa bỏ tâm độc ác, quy y Phật, Pháp, Tăng và hộ vệ chánh pháp của Như Lai. Các quỷ ấy vì duyên nghe pháp nên đến nơi Phật, năm vóc gieo xuống đất cung kính lễ Phật và vì khao khát được ngưỡng mộ công đức của Đức Thế Tôn nên các quỷ ấy cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc đều ngồi tại pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Khi các vua cầm thú nói lời ấy rồi thì đều nhất tâm, chắp tay chiêm ngưỡng Như Lai và cùng với hàng trăm ngàn quyến thuộc cùng ngồi lại nơi pháp hội nghe Phật thuyết pháp.

Lại có trăm ngàn Diễm-ma-la vương cùng vô số các Đại La-sát với đủ mọi hình loại, mọi ác vương, quan thuộc chốn u minh và những ngục lại coi giữ việc hình, tra xét tội phước, nhờ uy lực Phật, dứt bỏ tâm ác, cùng Diễm-ma-la vương đến nghe pháp và bạch Phật:

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ngồi trên tòa sư tử kết hoa sen báu. Tòa sư tử ấy màu lưu ly biếc, do các thứ ngọc lạ tô điểm xen kẽ tạo thành; ngọc báu pha lê làm cuống sen, vàng ròng màu tía làm cánh sen và dùng ngọc Ma-ni làm tua hoa trong đài sen. Có tám vạn bốn ngàn hoa sen lớn quý bằng vàng tốt của châu Nam Diêm-phù-đề làm quyến thuộc. Đức Phật được đại chúng nhiễu quanh trước sau cung dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.

Khi ấy, Đức Thế Tôn ngồi kiết già trên tòa Sư tử, diện mạo uy nghi thù thắng như núi Tu-di do bốn thứ báu tạo thành ở trong bể lớn, tự nhiên phát ra trăm ngàn mặt trời soi sáng khắp hư không, phóng ra vô lượng ánh sáng, phá mọi tối tăm; và cũng như ức vầng trăng tròn ở trong các vì sao, tỏa ra ánh sáng mát lành cả thế giới. Lúc ấy Đức Như Lai nhập pháp Tam-muội Hữu-đỉnh-thiền-cực-thiện gọi là Tâm-anh-lạc-bảo trang nghiêm vương, an trụ nơi định ấy thân tâm không động.

Bấy giờ, ở nơi ngực và những lỗ chân lông của Như Lai phóng ra hào quang sáng lớn tên là Chư Bồ tát du hý thần thông, khiến các Bồ tát tâm không thoái chuyển đối với quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Sắc của hào quang ấy như sắc của thứ vàng nơi Nam Diêm-phù-đề. Và sắc hào quang vàng ấy soi khắp tam thiên đại thiên thế giới cùng các thế giới khác. Cho đến trăm ức ngọn Diệu cao sơn vương, tất cả Tuyết sơn, Hương sơn, Hắc sơn, Kim sơn, Bảo sơn, Di-lâu sơn, Đại-di-lâu sơn, Mục-chân-lân-đà sơn, Đại-mục-chân-lân-đà sơn, Tiểu-thiết-vi sơn, Đại-thiết-vi sơn, sông lớn, sông nhỏ, biển cả, suối chảy, ao tắm và đến trăm ức thế giới trong bốn đại châu, mặt trời, mặt trăng, sao, thiên cung, long cung, các tôn thần cung, những quốc ấp, vương cung, làng xóm, cùng nơi cõi Diễm-ma-la có những tướng trạng của chúng sinh do nghiệp tạo tội phải chịu khổ trong tám ngục hàn, tám ngục nhiệt và các địa ngục khác. Cả đến những hình tướng thọ khổ của hàng súc sinh, ngạ quỷ trong mười phương, những tướng trạng chịu sướng, khổ của chúng sinh thuộc năm cõi trong tất cả thế gian…, tất cả những tướng trạng như thế đều hiện trong ánh hào quang lớn sắc vàng này.

Lại nữa, trong ánh hào quang này hiện rõ mọi tướng mạo của các vị Bồ tát tu hành Phật đạo. Như Bồ tát Thích-ca trong thời xa xưa làm vua Quang Minh, khi mới bắt đầu phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cho đến lúc thành Phật đạo bên gốc cây Bồ đề, nhập Niết bàn trong rừng Sa la; và trong khoảng ấy, ba vô số trăm vạn kiếp, có tất cả những sự về Từ, Bi, Hỷ, Xả, cùng tám vạn bốn ngàn pháp môn Ba la mật cũng đều hiện đủ. Trong thời quá khứ, Bồ tát làm Kim-luân vương, cai trị bốn thiên hạ cho đến tận cùng biển cả, Bồ tát đem chánh pháp giáo hóa thế gian qua vô lượng kiếp, nhân dân rất thịnh, đất nước giàu vui, tất cả của cải quý báu đầy dẫy quốc giới. Khi ấy, Kim-luân vương kia quán sát thế gian đều là vô thường, chán năm dục lạc, bỏ ngôi Kim-luân, xuất gia học đạo. Hoặc khi Bồ tát làm người con yêu quý của vị Đại Quốc vương, xả thân mạng, gieo mình vào nơi hổ đói. Hoặc khi Bồ tát làm Thi-tỳ vương cắt thịt mình cứu chim bồ câu. Hoặc khi Bồ tát xả thân nai chúa cứu con hươu đang có mang. Hoặc khi Bồ tát vì cầu nửa bài kệ mà xả toàn thân nơi núi Tuyết. Hoặc hiện thân thọ sinh nơi nhà vua Tịnh Phạn, bỏ sáu vạn thể nữ, cùng bỏ mọi thứ kỹ nhạc tuyệt hay nơi hậu cung mà vượt thành xuất gia; sáu năm tu khổ hạnh, ngày chỉ ăn hạt vừng, hạt gạo, hàng phục được các ngoại đạo; nơi gốc Bồ đề phá tan ma quân, đạt được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tất cả tướng mạo của trăm ngàn hằng sa hạnh nguyện khó nghĩ bàn như thế đều hiện rõ trong ánh hào quang lớn sắc vàng này.

Lại, chư Phật trong ba đời ở mười phương thế giới cùng các Đại Bồ tát tụ hội đông đủ nơi đạo tràng, các sự việc về thần thông biến hóa hiếm có và những tiếng nói pháp vi diệu của các Đức Như Lai nói ra, đều ghi rõ như tiếng vang ứng hợp trong ánh hào quang lớn sắc vàng này không gì là không trông thấy, nghe thấy. Tất cả chúng sinh gặp được ánh hào quang này, thấy tướng lành kia đều phát tâm Vô đẳng đẳng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi đại chúng trông thấy thần lực bất khả tư nghị của Phật, ai cũng đều khen chưa từng có bao giờ và đều bảo nhau:

-Ngày nay Như Lai nhập chánh định, phóng ra hào quang sáng lớn soi khắp mười phương thế giới khiến chúng ta được thấy Như Lai trong thuở xa xưa có những sự khó nghĩ bàn để điều phục những chúng sinh tà kiến trong đời ác trược, khiến họ phát sinh sự hiểu biết chân chánh và dốc hướng về đạo Bồ đề. Đức Như Lai là bậc hiếm có, Ngài đúng là Cha của tất cả thế gian, trong vô lượng kiếp khó thấy được Ngài. Chúng ta nhiều kiếp tu các hạnh nguyện, nên nay mới được gặp Bậc Đại Sư của trời, người trong ba cõi. Kính mong Đức Từ Tôn thương xót thế gian, từ thiền định dậy, nói pháp sâu xa, chỉ dạy cho chúng sinh đạt được những lợi lạc, vui vẻ! Tất cả chúng sinh nói lên lời ấy rồi đứng im, chiêm ngưỡng dung nhan Đức Từ Tôn.

Bấy giờ, trong pháp hội có một vị Bồ tát tên là Sư-Tử-Hống, trong ba vô số kiếp, Bồ tát đã tu hành về phước đức, trí tuệ, trong Hiền kiếp này Bồ tát sẽ chứng đắc quả vị Phật nhận ngôi Quán đảnh làm Bậc Đại Pháp Vương. Bồ tát hướng về bốn phương xem xét đại chúng trong hải hội, cất tiếng nói lớn:

-Trong vô lượng kiếp xa xưa tôi đã phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đã phụng sự hằng sa chư Phật, đã từng ở nơi đệ nhất chúng hội đạo tràng, được thấy những thần thông biến hóa bất tư nghị của chư Phật. Nhưng tôi chưa từng trông thấy ánh hào quang sắc vàng này, hiện rõ tất cả hạnh nguyện của Bồ tát, cùng hiện ra mọi tướng mạo của Như Lai, làm cho tôi được thấy những sự khó nghĩ bàn trong ba đời. Vậy, kính mong các Nhân giả nhất tâm, chắp tay, chiêm ngưỡng Tôn nhan, từ thiền định dậy Ngài sẽ trao cho chúng sinh thuốc cam lộ, trừ những bệnh nhiệt não, làm cho chúng sinh chứng được Pháp thân thường, lạc, ngã, tịnh. Các Đức Như Lai có hai pháp mà các Ngài không ở lâu trong chánh định: một là Đại Từ, hai là Đại Bi. Nương vào Đại Từ phải cho chúng sinh được an vui, dựa vào Đại Bi phải nhổ sạch mọi đau khổ cho chúng sinh. Do hai pháp ấy, trong vô số kiếp các Ngài đã dốc tu tập, hun đúc nơi tâm các Ngài mà thành ngôi Chánh giác. Chúng sinh trong thế gian chịu nhiều khổ não, do nhân duyên ấy, không bao lâu nữa Đức Như Lai từ chánh định dậy, sẽ vì chúng sinh diễn thuyết về diệu pháp Tâm địa quán môn của Đại thừa. Tôi xin kính cáo đại chúng: “Đại chúng không nên cầu các phước lạc trong trời, người mà nên cầu ngay đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác xuất thế gian. Sở dĩ thế là sao? Ngày nay, Đức Thế Tôn từ nơi ngực phóng ra hào quang sắc vàng, những nơi được soi tới cũng đều như sắc vàng cả, đó là sự hiển thị của Phật có ý nghĩa rất sâu xa mà tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác ở thế gian dù hết sức suy nghĩ lường tính cũng không thể biết được. Các vị còn ở trong phàm phu địa, không quán tự tâm, nên phải bị trôi giạt trong bể sinh tử! Chư Phật, Bồ tát vì quán được tâm, nên vượt qua được bể sinh tử, đến bờ Niết bàn. Pháp của Như Lai trong ba đời đều như thế, các Ngài phóng ra hào quang tỏa sáng ấy, không phải là không có nhân duyên!”. Tất cả chúng hội nghe Đại sĩ nói như thế, trong tâm đều vui mừng hớn hở, cho rằng gặp được sự chưa từng có bao giờ.

Bấy giờ, Bồ-tát Ma-ha-tát Sư-Tử-Hống muốn nhấn mạnh lại nghĩa ấy bằng lời kệ sau đây:

Kính lễ Thiên Nhân Đại Giác Tôn

Hằng sa phước trí đều viên mãn

Chúng sinh trông thấy sinh lòng mến

Tướng Kim quang trăm phước trang nghiêm.

Mình ở ngôi tôn hơn ba cõi

Công đức tối thắng không gì sánh

Dùng sức thần thông tự tại khắp

Tùy chỗ tạo nghiệp, hiện trước họ

Tôi dùng Thiên nhãn quán thế gian

Tất cả không ai bằng được Phật

Hiện có kim dung như trăng tròn

Hiếm có còn hơn hoa Ưu-đàm.

Vô biên phước trí lợi quần sinh

Đại quang soi như ngàn mặt trời

Chúng sinh ngu si khổ nhiều kiếp

Nhờ hào quang soi trừ được cả.

Tôi quán Như Lai hạnh nguyện xưa,

Thân cận cứng dường vô số Phật

Trải qua vô số vô lượng kiếp

Vì chúng sinh, hướng tới Bồ đề.

Thường ở trong bể khổ sinh tử

Làm Đại thuyền sư vớt mọi loài

Diễn nói pháp chân tịnh cam lộ

Khiến vào cửa Vô vi giải thoát.

Ba vô số kiếp độ chúng sinh

Siêng tu tám muôn Ba la mật

Nhân tròn, quả đủ thành Chánh giác

Trụ yên thọ mạng không đi, lại.

Mỗi một tướng tốt khắp pháp giới

Tướng thập phương Phật đều thế cả

Cảnh giới sâu xa khó nghĩ bàn

Tất cả trời, người không lường được.

Thể, dụng chư Phật không sai khác

Như ngàn đèn soi sáng càng thêm

Trí tuệ như không, không bờ bến

Ứng vật hiện hình như trăng nước.

Vô biên pháp giới thường vắng lặng

Như như bất động ví hư không

Như Lai thanh tịnh diệu pháp thân

Tự nhiên đầy đủ hằng sa đức.

Khắp cả pháp giới không cùng tận

Không sinh, không diệt, không đi, lại

Pháp vương thường ở Diệu pháp cung

Ánh sáng Pháp thân soi khắp cả.

Pháp tánh Như Lai không vướng ngại

Tùy duyên ứng khắp, lợi quần sinh

Chúng sinh đều thấy ngay trước mặt

Vì mình tuyên nói pháp cam lộ.

Tùy tâm dốc diệt các phiền não,

Mọi khổ trời, người đều giũ sạch

Pháp vương kỳ diệu phá sinh tử

Ánh sáng soi tỏa như núi vàng.

Vì độ chúng sinh khỏi thế gian

Hay đốt đuốc pháp xua tăm tối

Chúng sinh chìm trong bể sinh tử

Quẩn quanh năm nẻo không hẹn ra.

Thiện Thệ hằng làm thuyền pháp diệu

Ngăn chặn dòng ái, tới bờ giác

Đại trí phương tiện không thể lường

Thường cho chúng sinh vui vô tận.

Ngài là cha lành của thế gian

Thương xót tất cả loài hữu tình

Như Lai ra đời rất khó gặp

Vô số ức kiếp một lần hiện.

Ví như hoa Ưu-đàm, điềm “Diệu-thụy”

Là hoa hiếm có trong người, trời

Trong vô lượng kiếp một lần hiện

Thấy Phật ra đời cũng đồng vậy.

Các chúng sinh ấy không phước tuệ

Thường đắm chìm trong bể sinh tử

Ức kiếp không thấy các Như Lai

Chúng ta vô

[Nội dung đầy đủ xin đọc trong ứng dụng ZenTam]

Kinh tiếp theo