Kinh Hạnh Người Cư Sĩ
Ưu Bà Di Tịnh Hạnh Pháp Môn Kinh
Thất dịch
Việt dịch: Thích Định Viên
***
Phẩm 1: TU HÀNH
1. Nhân duyên Phật nói kinh
Đúng thật như thế, chính tôi được nghe: Một thời, Đức Phật ở trong điện Hoan Hỉ, tại vườn Phất-bà-la của bà Di-già-la, thuộc nước Xá-vệ[1].
Bấy giờ, bà Tì-xá-khư[2] cùng với một nghìn năm trăm ưu-bà-di[3] đi đến chỗ Phật, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi qua một bên.
Phật bảo Tì-xá-khư:
– Có việc gì mà từ sớm bà đã đến đây?
Tì-xá-khư bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn! Trước đây con đã nghe Như Lai lược nói về pháp vô thượng, thâm sâu, khó được nghe, tên là Ưu-bà-di tịnh hạnh. Cúi xin Thế Tôn thương tưởng chúng con nói rõ pháp tướng vi diệu của kinh này. Chúng con nghe kinh xong rồi, mãi mãi về sau được an ổn, khoái lạc ở trong cõi trời, cõi người, cho đến thành tựu bồ-đề[4].
Phật bảo bà Tì-xá-khư!
– Lành thay! Lành thay thiện nữ! Trong vô lượng kiếp trước, ngươi cùng với quyến thuộc từng ưa nghe pháp và muốn Như Lai giảng nói sâu rộng.
Tì-xá-khư nghe Phật nói về nhân duyên quá khứ, vui mừng bạch Phật:
– Thế Tôn! Nguyện xin Ngài nói rõ cho chúng con được hiểu.
2. Tiền thân của bà Tì-xá-khư
Phật bảo Tì-xá-khư:
– Lắng nghe, lắng nghe! Như Lai sẽ vì ngươi mà lược nói. Thiện nữ! Trong kiếp quá khứ rất lâu xa, ở nước Ba-la-nại có vị vua tên là Phạm Dữ, hoàng hậu tên là Bạc-đà-la. Vua có một người con gái tên là Liên Hoa, dung mạo đoan chính, bẩm tính ngoan hiền, thông minh, ưa học hỏi, chuyên cần can đảm, thường tu hạnh lành. Các nghề ở đời cô đều thông đạt. Công chúa được cha mẹ hết sức thương yêu.
Bấy giờ, trên Tuyết Sơn[5] có một Phạm chí tên là Na-la-đà tinh cần tu tập Phạm hạnh, đắc được ngũ thông[6], thường thuyết pháp cho mọi người, tiếng lành đồn xa, vang khắp bốn phương.
Một hôm, công chúa đến nhà bạn, nghe mọi người ngợi khen Phạm chí Na-la-đà có thần thông, công đức khó lường, lại thường vì đại chúng tuyên dương diệu pháp. Liên Hoa vui mừng nghĩ: “Người hiền khó gặp, pháp cũng khó nghe, thân mệnh lại khó giữ. Vì thế, ta nên mau đến chỗ ngài để lễ bái, hỏi pháp”. Thế là, cô trở về thưa với cha mẹ:
– Thưa cha mẹ! Con nghe mọi người khen ngợi Phạm chí Na-la-đà là vị tu hành, đạo đức cao vời, xin cha mẹ cho phép con đến chỗ vị Phạm chí này để nghe pháp.
Vua cha nói:
– Con tuổi còn nhỏ, sinh trưởng trong cung cấm, bản tính vốn nhu hòa, chưa từng đi ra ngoài. Tuyết Sơn cao xa, hiểm trở, gian nan, con làm sao có thể đến được? Nước chúng ta có nhiều Phạm chí, là bậc kì lão thần thông trí tuệ vô song, lại khéo tuyên thuyết diệu pháp. Cha sẽ mời họ vào cung giảng luận đạo pháp, cho con mặc tình tham hỏi, đâu cần phải đi!
Liên Hoa lại thưa:
– Các bậc kì lão Phạm chí ở nước Ba-la-nại, đều coi trọng và đề cao đạo thuật của mình, con chỉ xin phép cha mẹ cho con được nghe pháp yếu.
Vì rất mực thương yêu con gái nên vua chấp thuận.
Lúc ấy, công chúa tự nghĩ: “Ta muốn nghe pháp, nay đã đúng thời”. Thế rồi, công chúa cùng một nghìn năm trăm thể nữ, mang theo hương, hoa… đi đến chỗ Phạm chí Na-la-đà để nghe pháp.
Phật bảo Tì-xá-khư:
– Công chúa lúc ấy chính là ngươi, Phạm chí ở Tuyết Sơn nay chính là Như Lai. Ngày xưa, ngươi từng cầu thỉnh Như Lai nói pháp, ngày nay cũng thế. Như Lai sẽ vì ngươi giảng rộng về pháp môn tịnh hạnh.
Tì-xá-khư bạch Phật:
– Lành thay Thế Tôn! Như Lai đại từ thương xót chúng sinh, nguyện xin giải nói cho chúng con tu hành.
3. Hạnh thanh tịnh của ưu-bà-di
Phật bảo Tì-xá-khư:
– Hãy khéo lóng nghe! Nay Như Lai vì ngươi nói rõ pháp môn tịnh hạnh của ưu-bà-di. Pháp này được chư Phật hộ niệm[7], ngươi nên tinh tấn tu học:
2. Sinh vào quốc độ tốt, là nhờ sức chiêu cảm của nhân lành kiếp trước. Đó gọi là tịnh hạnh.
4. Không khinh thường lỗi nhỏ, những việc thiện cần làm, nên làm theo thứ lớp. Đó gọi là tịnh hạnh.
5. Thường vui ưa bố thí, thương mến các bạn bè. Đó gọi là tịnh hạnh.
6. Không uống các loại rượu, các việc ác chẳng làm, thường nói lời hòa nhã. Đó gọi là tịnh hạnh.
7. Biết được nhiều nghề hay, khéo học tập uy nghi, tìm hiểu những điều tốt, và khi đã nghe rồi thì không để quên mất. Đó gọi là tịnh hạnh.
8. Kính trọng bậc hiền đức, ít muốn và biết đủ, mang ân thường báo đáp. Đó gọi là tịnh hạnh.
9. Tâm không bị tám pháp[8] làm lay động đảo điên, dung mạo luôn vui hòa. Đó gọi là tịnh hạnh.
10. Đối với những pháp lành, không sinh tâm giải đãi, mau chứng đạo vô thượng, được giải thoát niết-bàn. Đó gọi là tịnh hạnh.
11. Nhẫn nhịn từng lời nói, gần gũi bậc sa-môn, thân tạo nghiệp chân chính, tiếng lành được vang xa. Đó gọi là tịnh hạnh.
12. Thường dùng lửa trí tuệ thiêu đốt củi phiền não, đầy đủ các hạnh lành, dũng mãnh không lui sụt. Đó gọi là tịnh hạnh.
13. Không khinh chê người khác, cũng không đánh mắng người, khéo phòng hộ các căn, nhiếp tâm chẳng loạn động. Đó gọi là tịnh hạnh.
14. Tính ngay thẳng không tham, thích ở chỗ thanh vắng, chuyên cần lo tu tập, mãi mãi không lui sụt. Đó gọi là tịnh hạnh.
15. Đối với đạo bồ-đề, tinh tiến không lùi bước, thường chán ghét ba cõi giống như thấy thây chết. Quán sâu được như thế, đó gọi là tịnh hạnh.
16. Thích xả thân khó xả, khéo giữ giới khó giữ, vui tu tập thiền định, tâm không hề loạn động. Đó gọi là tịnh hạnh.
17. Đối với đạo bồ-đề, chúng sinh thường thoái thất, nhưng ta thường tinh tiến, mọi oai nghi đi đứng, cũng không hề lui sụt. Đó gọi là tịnh hạnh.
18. Chúng sinh không gìn giữ, thường thiêu hủy thiện căn, còn ta hằng tâm nguyện, mãi vun bón nhân lành. Điều chúng sinh trưởng dưỡng, ta đã diệt tận nguồn, sinh tử thật vô cùng, ta cũng đã đoạn tận. Đó gọi là tịnh hạnh.
4. Những hạnh phụ trợ
Tì-xá-khư nghe Phật nói về tịnh hạnh như thế, vui mừng vô cùng, được điều chưa từng có, liền bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Pháp môn ưu-bà-di lại có bao nhiêu hạnh?
Phật bảo Tì-xá-khư:
– Có mười hạnh, ngươi nên tu học:
1. Vì thấy được lỗi xẻn tham nên vui lòng bố thí.
2. Vì thấy được lỗi của năm căn nên nguyện giữ giới cấm.
3. Vì thấy lỗi của người tại gia nên ham muốn xuất gia.
4. Vì thấy lỗi của sự nghi ngờ nên muốn tu trí tuệ.
5. Vì thấy lỗi của giải đãi nên thường tinh tấn.
6. Vì thấy lỗi của sân hận nên vui hành nhẫn nhục.
7. Vì thấy lỗi của vọng ngữ nên thích giữ trung tín.
8. Vì thấy lỗi của loạn tâm nên thường tu thiền định.
9. Vì thấy lỗi tội khổ nên vui thích từ bi.
10. Vì thấy lỗi khổ-vui nên thích hành tâm xả.
Bấy giờ, Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên nên nói kệ:
Thường xả vật yêu quí
Bố thí được giàu sang
Xuất gia rời dục lạc
Trì giới gìn các căn.
Tu học được trí tuệ
Tinh tiến lìa biếng lười
Nhẫn nhục trừ sân hận
Lời thật chẳng dối gian.
Nếu gặp phải tám pháp
An trụ lòng lặng trong
Tâm thường vui thiền định
Không tạp loạn buông lung.
Hạnh từ bi lợi sinh
Hạnh xả lìa vui, khổ
Hạnh như thế thường hành
Là người đại dũng mãnh
Vượt qua được bến mê
Chứng thành đạo bồ-đề.
5. Pháp căn bản đầu tiên
Tì-xá-khư nghe Phật dạy, lòng rất vui mừng, bạch:
– Thế Tôn, ưu-bà-di ban đầu tu tập pháp môn tinh hạnh có bao nhiêu việc cần phải xa lìa? Lại có bao nhiêu pháp cần phải gần gũi?
Phật bảo Tì-xá-khư:
– Có bốn mươi tám pháp[9] cần phải gần gũi tu học và cần phải xa lìa. Đó là:
1. Xa lìa tất cả pháp bất tịnh.
2. Gần gũi pháp thanh tịnh.
3. Xa lìa những pháp ác.
4. Gần gũi các pháp lành.
5. Không nuôi dưỡng pháp ác.
6. Xa lìa nhân bất thiện.
7. Chỗ cần đến liền đi đến.
8. Việc không đúng chẳng làm.
9. Việc đáng làm mới làm.
10. Vật bất chính không dùng.
11. Vật chính đáng mới dùng.
12. Khéo điều phục thân tâm.
13. Thường ưa nơi thanh vắng.
14. Xả bỏ gian dối.
15. Thực hành chính ngữ.
16. Chán bỏ sự giải đãi.
17. Vui thích tinh tấn.
18. Khéo nhiếp các căn, không để phóng túng.
19. Ý phải khiêm cung.
20. Bỏ thói cống cao.
21. Thường hành nhẫn nhục.
22. Không nên giận dữ.
23. Tự mình không tranh cải, kiện tụng.
24. Khéo hòa hợp chúng.
25. Bỏ thói thô lỗ.
26. Hành xử tế nhị.
27. Bỏ những lời vô nghĩa.
28. Nói những lời có ý nghĩa.
29. Quyết bỏ nghề bất chính.
30. Sống bằng nghề chân chính.
31. Ăn uống tiết độ.
32. Không nên tham nhiều.
33. Phải biết muốn ít.
34. Bỏ tính ngang ngạnh.
35. Điều tâm hiền hòa.
36. Nói lời từ ái.
37. Không nói lời thô lỗ.
38. Xả chốn bất an.
39. Trụ chỗ an lạc.
40. Bỏ qua sự bất đồng ý kiến.
41. Thường thống nhất ý kiến.
42. Bỏ thói quen không chịu học hỏi.
43. Tập tính thường học hỏi.
44. Thường nhàm chán ba cõi.
45. Bỏ tạo tác nghiệp.
46. Trụ chỗ không tạo nghiệp.
47. Xả ngã kiến.
48. Tu học pháp không[10].
Tì-xá-khư! Bốn mươi tám pháp ban đầu để tu tập tịnh hạnh là như thế, ngươi khéo thực hành.
Bấy giờ, Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng bài kệ:
Những điều đáng xa lìa
Trước sau đều dứt bỏ
Chẳng gần gũi pháp nào
Như thế được an lạc.
Hết thảy pháp đã học
Điều nguyện đều đầy đủ,
Xả mến tiếc thân mạng
Chứng đắc đạo vô thượng.
Với pháp môn tịnh hạnh
Nếu học được như thế
Chẳng phải chứng nhị thừa
Chẳng phải chứng bồ-tát
Ở trong vô lượng kiếp
Xưng tán công đức ấy.
6. Ba hạnh lớn
Phật nói kệ xong, Tì-xá-khư rất vui mừng, hỏi Phật:
– Bạch Thế Tôn! Pháp môn tịnh hạnh lại có bao nhiêu hạnh lớn?
Phật nói:
– Có ba hạnh lớn nên thực hành:
1. Đại tín tâm.
2. Đại tinh tiến.
3. Đại trí tuệ.
– Thế Tôn! Sao gọi là đại tín tâm?
Phật dạy:
– Đại tín tâm nghĩa là tin Phật là bậc Bà- già-bà[11], A-la-a[12], Tam-miệu Tam-Phật-đà[13], Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đó gọi là đại tín tâm.
– Sao gọi là đại tinh tiến?
– Thường siêng năng xả bỏ tất cả pháp ác, giữ gìn và dũng mãnh tinh tiến tu hành hết thảy pháp lành. Đó gọi là đại tinh tiến.
– Đại trí tuệ là thế nào?
– Người dùng mắt trí tuệ thấy được các pháp sinh diệt. Bậc thánh đã thấy rõ vô thường và dứt hết các khổ. Như thế gọi là đại trí tuệ.
Đó là ba hạnh lớn.
Bấy giờ, Thế Tôn nói lại bằng bài kệ:
Với đại tín tâm
Tin sâu không bỏ
Các hạnh đầy đủ
Mà cầu bồ-đề.
Với đại tinh tiến
Kiên trì không bỏ
Tu tập trọn vẹn
Mà cầu bồ-đề.
Với đại trí tuệ
Thông suốt tận cùng
Đủ ba-la-mật[14]
Mà cầu bồ-đề.
Tín tâm đã tăng
Biết được Phật pháp
Ngày càng thâm sâu
Nhờ hiểu pháp này
Thông suốt nhân pháp[15].
7. Bốn hạnh hướng đến quả Phật
Phật nói kệ xong, Tì-xá-khư lòng rất vui mừng, lại hỏi Thế Tôn.
– Bạch Thế Tôn! Pháp môn tịnh hạnh của ưu-bà-di hướng đến quả Phật cần có bao nhiêu hạnh?
Phật bảo:
Tì-xá-khư! Có thêm bốn hạnh để đạt đến quả Phật. Đó là:
1. Tha thiết tinh tiến.
2. Trí tuệ sáng suốt.
3. Quyết tâm không thoái chuyển.
4. Hành từ lợi ích chúng sinh.
Tì-xá-khư! Từ bốn pháp này sẽ đưa đến quả Phật.
Bấy giờ, Thế Tôn nói lại bằng bài kệ:
Tha thiết thường tinh tiến
Trí tuệ không mê lầm
Quyết tâm không thoái chuyển
Hành từ lợi chúng sinh.
Nhân nơi bốn pháp này
Chứng quả Tát-bà-nhã[16].
8. Những pháp tu quán
Phật nói kệ rồi, Tì-xá-khư lòng rất vui mừng, lại hỏi Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn! Chúng con phải tu tập những pháp nào để đắc quán[17]? Làm sao an trụ vào pháp ấy không bị phân tán? Ban đầu xứng hợp với pháp ấy cần có bao nhiêu việc?
Phật bảo Tì-xá-khư:
– An trú trong bốn pháp từ, bi, hỉ, xả để đắc quán. An trú trong đó thì không bị tán loạn. Nghĩa là đắc trí Thanh văn, trí Bích-chi, trí Tát-bà-nhã, trí Phật. Ban đầu để xứng hợp với pháp cần có ba mươi hai pháp quán:
1. Nhớ nghĩ đến Phật.
2. Nhớ nghĩ đến Pháp.
3. Nhớ nghĩ đến Tăng.
4. Nhớ nghĩ đến giới luật.
5. Nhớ nghĩ đến bố thí.
6. Nhớ nghĩ đến cõi trời.
7. A-na-niệm[18].
8. Bát-na-niệm[19].
9. Quán tưởng sự hoại diệt.
10. Quán tưởng về thân.
11. Quán tưởng tịch tĩnh.
12. Quán tưởng về đất.
13. Quán tưởng về nước.
14. Quán tưởng về lửa.
15. Quán tưởng về gió.
16. Quán tưởng về sắc xanh.
17. Quán tưởng về sắc vàng.
18. Quán tưởng về sắc đỏ.
19. Quán tưởng về sắc trắng.
20. Quán tưởng về hư không.
21. Quán tưởng về phạm vi của thức.
22. Quán tưởng về tướng trương sình của thi thể.
23. Quán tưởng tướng hôi dơ của thi thể.
24. Quán tướng máu mủ rò rĩ của thi thể.
25. Quán tướng trương xì của thi thể.
26. Quán tướng sự thối nát của thi thể.
27. Quán tưởng sự rả rời của thi thể.
28. Quán tưởng tướng xương, thịt ngang dọc lẫn lộn của thi thể.
29. Quán tướng thi thể chỉ còn lại xương ướt ẩm.
30. Quán tướng thi thể chỉ còn lại xương khô, sắc trắng.
31. Quán hết thảy đều không thường còn.
32. Quán tất cả các pháp đều vô ngã[20].
Đó gọi là ba mươi hai pháp quán với tứ vô lượng tâm. Đó cũng chính là pháp an trụ để đạt được trí Thanh văn, trí Bích-chi Phật, trí Tát-bà-nhã, trí Phật. Đó gọi là pháp nhiếp tâm không bị phân tán.
Bấy giờ, Thế Tôn nói lại bằng bài kệ:
Nếu dùng hạ quán
Đắc trí Thanh văn
Khéo tu trung quán
Đắc trí Duyên giác
Trọn vẹn thượng quán
Đắc trí bồ-đề.
9. Đối tượng của pháp quán bất tịnh
Phật nói kệ xong, Tì-xá-khư vui mừng, lại hỏi Thế Tôn:
– Làm sao trụ tâm vào pháp quán bất tịnh để mau lìa phiền não, thông đạt sáu môn[21]?
Phật bảo bà Tì-xá-khư:
– Có ba mươi hai tướng để quán bất tịnh. Nếu tâm thường trụ vào đó thì mau lìa phiền não, chứng được sáu môn. Ba mươi hai tướng bất tịnh chính là: 1. Tóc, 2. Lông, 3. Móng, 4. Răng, 5. Da, 6. Thịt, 7. Gân, 8. Xương, 9. Mỡ đặc, 10. Mỡ lỏng, 11. Tủy, 12. Não, 13. Tim, 14. Thận, 15. Gan, 16. Mật, 17. Đại trường, 18. Tiểu trường, 19. Tì, 20. Phổi, 21. Bụng, 22. Dạ dày, 23. Máu, 24. Mủ, 25. Đàm, 26. Mồ hôi, 27. Nước mũi, 28. Nước bọt; 29. Ghèn, 30. Nước mắt, 31. Phân, 32. Nước tiểu.
Tì-xá-khư! Đó là quán ba mươi hai tướng bất tịnh, làm cho tâm vui trụ ở pháp môn tịnh hạnh, mau xa lìa phiền não, thông đạt sáu môn.
Bấy giờ Thế Tôn nói lại bằng kệ:
Giống như trăm dòng
Đổ về biển cả
Trong các pháp môn
Dòng quán cũng thế
Khéo quán thô, tế
Tịnh và bất tịnh
Pháp vô thượng trí
Phật đều thông đạt.
10. Bảy tâm chấp trước cần xả bỏ
Phật nói kệ rồi, Tì-xá-khư hết sức vui mừng lại hỏi:
– Bạch Thế Tôn! Bồ-tát đối với pháp môn tịnh hạnh, có bao nhiêu chấp trước làm cho bị trói buộc ở thế gian, không thể giải thoát?
Phật dạy:
Tì-xá-khư! Các bồ-tát tu tập pháp môn tịnh hạnh có bảy tâm làm cho bị trói buộc ở thế gian. Đó là vị ấy nghĩ:
1. Nếu ta được độ, người chưa được độ nên ta muốn độ thoát họ.
2. Nếu ta được giải thoát, người chưa được giải thoát nên ta muốn làm cho họ được giải thoát.
3. Nếu ta đã giác ngộ, người chưa giác ngộ nên ta muốn giác ngộ họ.
4. Nếu ta đã được điều phục, người chưa được điều phục nên ta muốn điều phục họ.
5. Nếu ta đã được an lạc, người chưa được an lạc nên ta muốn làm cho họ được an lạc.
6. Nếu ta đã thành đạo, người chưa được thành đạo nên ta muốn dẫn dắt họ.
7. Nếu ta đã được niết-bàn, người chưa được niết-bàn nên ta muốn làm cho họ được vào niết-bàn.
Tì-xá-khư! Đó là bảy món tham trước của bồ-tát ở thế gian làm cho họ không được giải thoát.
Bấy giờ, Thế Tôn nói lại bằng bài kệ:
Đã độ, độ chúng sinh
Đã thoát, dẫn chúng sinh
Đã giác, giác người khác
Tự điều, điều phục người
Tự an, an người khác,
Mình đi, dắt dìu người
Ta đã đắc Niết-bàn
Khiến người khác viên tịch
Ba cõi như nhà lửa
Tham dục như lưới, bùn.
Tất cả đều diệt đoạn
Chứng thành đạo Bồ-đề.
11. Ba hạnh trọn vẹn tất cả pháp môn
Thế Tôn nói kệ xong, Tì-xá-khư lòng rất vui mừng, lại hỏi thêm:
– Thế Tôn! Trong pháp môn tịnh hạnh cần tu bao nhiêu hạnh lành là trọn vẹn tất cả pháp môn?
Phật dạy:
– Tu ba hạnh lành sẽ trọn vẹn tất cả pháp môn:
1. Hạnh lành của thân.
2. Hạnh lành của miệng.
3. Hạnh lành của ý.
Ba hạnh lành này trọn vẹn làm cho tất cả hạnh đều trọn vẹn. Nghĩa là bố thí trọn vẹn, trì giới trọn vẹn, xuất gia trọn vẹn, trí tuệ trọn vẹn, tinh tiến trọn vẹn, nhẫn nhục trọn vẹn, chân thật trọn vẹn, thệ nguyện trọn vẹn, từ, bi, hỉ, xả trọn vẹn, tứ tư[22] trọn vẹn, tứ định[23] trọn vẹn, tứ thần túc[24] trọn vẹn, ngũ căn[25] trọn vẹn, ngũ lực[26] trọn vẹn, thất bồ-đề phần[27] trọn vẹn, bát chính đạo[28] trọn vẹn, cửu trí[29] trọn vẹn, thập lực[30] trọn vẹn, Tu-đà-hoàn đạo trí[31] trọn vẹn, Tu-đà-hoàn quả trí[32] trọn vẹn, Tư-đà-hàm đạo trí[33] trọn vẹn, Tư-đà-hàm quả trí[34] trọn vẹn, A-na-hàm đạo trí[35] trọn vẹn, A-na-hàm quả trí[36] trọn vẹn, A-la-hán đạo trí[37] trọn vẹn, A-la-hán quả trí[38] trọn vẹn, tứ trí:, pháp trí[39], vị tri trí[40], danh tự trí[41], tha tâm trí[42]trọn vẹn, tận trí[43] trọn vẹn, vô sinh trí[44] trọn vẹn, song thần lực[45] trọn vẹn, đại từ tam-muội trí trọn vẹn, nhất thiết trí[46] trọn vẹn, vô ngại trí[47] trọn vẹn.
Tì-xá khư! Đó gọi là tu ba hạnh lành trọn vẹn tất cả các pháp.
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ:
Tu ba hạnh lành rồi
Hết thảy pháp trọn vẹn
Trọn vẹn hết thảy pháp
Chứng nên đạo bồ-đề.
12. Tám điều bậc đại nhân phải nhớ nghĩ
Phật nói kệ xong, Tì-xá-khư vui mừng, lại hỏi Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn! Pháp môn tịnh hạnh có bao nhiêu điều bậc đại nhân phải nhớ nghĩ?
Phật dạy:
– Có tám điều bậc đại nhân nhớ nghĩ:
1. Thiểu dục, chẳng nên không thiểu dục.
2. Tri túc, chẳng nên không tri túc.
3. Tịch tĩnh, chẳng nên không tịch tĩnh.
4. Xả li, chẳng nên không xả li.
5. Tinh tiến, chẳng nên không tinh tiến.
6. Thiền định, chẳng nên không thiền định.
7. Trí tuệ, chẳng nên không trí tuệ.
8. Vô ngại, chẳng nên không vô ngại.
– Tì-xá-khư! Đó gọi là tám điều bậc đại nhân thường nhớ nghĩ đến.
Bấy giờ Thế Tôn nói lại nghĩa trên bằng bài kệ:
Những ý niệm chẳng lành
Khéo giữ tâm định tĩnh
Nên bỏ các niệm ấy
Và sinh tâm chán lìa.
Những ý niệm chẳng lành
Khéo giữ tâm định tĩnh
Quán sâu các pháp tướng
Đắc thành đạo Vô thượng.
***
Phẩm 2: TU HỌC
1. Pháp dành cho người mới học hạnh bồ-tát
Phật nói kệ xong, Tì-xá-khư lòng rất vui mừng, lại hỏi Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn! Người mới học hạnh bồ-tát, tu học pháp môn tịnh hạnh như thế nào để đắc bồ-đề?
Phật dạy:
– Người mới học hạnh bồ-tát có năm mươi điều cần tu học để chứng đắc đạo bồ-đề:
1. Thâm nhập vào pháp tính[48].
2. Tu học pháp tính không buông bỏ, không giảm sút.
3. Tu học pháp tính không sai lạc.
4. Tu học pháp tính không thoái thất.
5. Tu học tâm buông xả.
6. Tu học đa văn[49].
7. Tu học oai nghi.
8. Tu học hàng phục chúng ma.
9. Tu học tướng ánh sáng của Phật.
10. Tu học tướng tốt của Phật.
11. Tu học giới cấm.
12. Tu học tam-muội.
13. Tu học trí tuệ.
14. Tu học trí tuệ lớn.
15. Tu học hạnh lành.
16. Tu học hạnh lành lớn.
17. Tu học sắc tướng.
18. Tu học vô nhị ngữ[50].
19. Tu học như ý túc.
20. Tu học thượng như ý túc.
21. Tu học đại như ý túc.
22. Tu học diệu như ý túc.
23. Tu học ý hành[51].
24. Tu học dĩ ý hành.
25. Tu học đại ý hành.
26. Tu học hạnh lãnh đạo của Phật[52].
27. Tu học tự tại.
28. Tu học tướng tâm Phật.
29. Tu học
[Nội dung đầy đủ xin đọc trong ứng dụng ZenTam]